Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 49/2024/DS-ST

Ngày: 28 tháng 05 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải

Ông Trần Trung Nam

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 292/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 03 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 292/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 04 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 292/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (N1); Địa chỉ: Số B - B C, phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc T, ông Lộ Bá T1; Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ liên hệ: Số A N, quận T, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 738/2023/UQ-AMC ngày 20/10/2023 của Công ty A – N2). (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc B - sinh năm: 1960; Địa chỉ: Tổ E, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • + Bà Nguyễn Thị C - sinh năm: 1961; Địa chỉ: K Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Ngọc G - sinh năm: 1980; Địa chỉ: K Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 - sinh năm: 1982; Địa chỉ: K Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị L - sinh năm: 1951; Địa chỉ: K Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Ngọc T trình bày:

Ông Nguyễn Ngọc B đã ký Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0345/2020/415 CV ngày 26/05/2020, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0047/2022/415-TD-CV ngày 26/05/2022 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 0112/2022/415-TD-CV ngày 24/12/2022 để vay tiền tại Ngân hàng TMCP N (sau đây gọi là Ngân hàng N) cụ thể như sau:

  • - Giấy nhận nợ số 01/GNN-0345/2020/415-TD-CV ngày 27/5/2020: Số tiền nhận nợ: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); Lãi suất: 12.2%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 27/05/2020 đến tháng 05/2025;
  • - Giấy nhận nợ số 01/GNN-0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022: Số tiền nhận nợ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); Lãi suất: 11.8%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 22/03/2022 đến ngày 22/03/3023;
  • - Giấy nhận nợ số 01/GNN-0047/2022/415-TD-CV ngày 26/5/2022: Số tiền nhận nợ: 860.000.000 đồng (Tám trăm sáu mươi triệu đồng); Lãi suất: 11.8%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 26/5/2022 đến ngày 26/5/2023.
  • - Giấy nhận nợ số 02/GNN-0047/2022/415-TD-CV ngày 27/5/2022: Số tiền nhận nợ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); Lãi suất: 11.8%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 27/5/2022 đến ngày 26/5/2023.
  • - Giấy nhận nợ số 01/GNN-0012/2022/415-TD-CV ngày 04/01/2023: Số tiền nhận nợ: 199.900.000 đồng (Một trăm chín mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng); Lãi suất: 16.5%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỷ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 04/01/2023 đến ngày 04/01/2024.

Dư nợ của các khoản vay trên tạm tính đến ngày 28/05/2024 là: 1.913.395.490 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.483.181.000 đồng; Nợ lãi: 430.215.490 đồng.

Ngày 17/7/2018, Ngân hàng N và ông Nguyễn Ngọc B ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng (sau đây gọi là Hợp đồng tín dụng) số: 0436/2018/415-CV. Ngân hàng N đã cấp thẻ tín dụng cho ông B như sau: Thẻ Credit nội địa: Số tài khoản thẻ: 341503659500005; Lãi suất: 54%/năm; Hạn mức: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Dư nợ của khoản vay tạm tính đến ngày 28/05/2023 là: 13.756.126 đồng, trong đó: nợ gốc là 7.308.590 đồng và nợ lãi là 6.447.536 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông B theo Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) số 0076/2018/415-BĐ ngày 10/7/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 03/SĐ-0076/2018/415-BĐ ngày 26/05/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 07/SĐ-0076/2018/415-BĐ ngày 22/3/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 09/SĐ- 0076/2018/415-BĐ ngày 24/12/2022 ký kết giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Ngọc B là: Thửa đất số: 378; tờ bản đồ số: 8; Địa chỉ thửa đất: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; Diện tích: 97,90 m2; Hình thức sử dụng: riêng: 97,90 m2; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nhà ở: Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở; Diện tích xây dựng: 96,00 m2; Diện tích sử dụng: 114,40 m2; Kết cấu: Mái tôn, sàn đúc + gỗ, tường xây, nền gạch hoa. (Theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007).

Hiện nay, ông B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong thời gian dài, ảnh hưởng tới quyền lợi của Ngân hàng. Căn cứ theo các quy định tại các Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Ngọc B phải trả toàn bộ nợ vay với tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2024 là: 1.927.151.616 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.490.488.590 đồng; nợ lãi là 436.663.026 đồng (lãi trong hạn: 100.242.702 đồng, lãi quá hạn: 326.127.007 đồng; lãi chậm trả lãi là 10.293.317 đồng) và các khoản tiền lãi trên tổng số tiền chưa thanh toán cho đến ngày thanh toán hết các nghĩa vụ cho Ngân hàng N.

Trường hợp ông Nguyễn Ngọc B không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ thì Ngân hàng N yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 378; tờ bản đồ số: 8; Địa chỉ thửa đất: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007 để thu hồi nợ.

Đối với ý kiến của ông Nguyễn Ngọc B đề nghị Ngân hàng cơ cấu lại khoản nợ vay để trả tiền gốc mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng, trả trong vòng 12 năm thì Ngân hàng N không đồng ý.

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, bị đơn là ông Nguyễn Ngọc B trình bày:

Ông Nguyễn Ngọc B xác nhận vay vốn tại Ngân hàng N tổng sộng số tiền tính đến ngày 28/05/2024 là 1.927.151.616 đồng (Một tỷ, chín trăm hai mươi bảy triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm mười sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 1.490.488.590 đồng và nợ lãi là 436.663.026 đồng theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0345/2020/415 CV ngày 26/05/2020, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0047/2022/415-TD-CV ngày 26/05/2022, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0112/2022/415-TD-CV ngày 24/12/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0436/2018/415-CV ngày 17/7/2018.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Thửa đất số: 378; tờ bản đồ số: 8; Địa chỉ thửa đất: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; Diện tích: 97,90 m2; Hình thức sử dụng: riêng: 07,90 m2; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nhà ở: Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở; Diện tích xây dựng: 96,00 m2; Diện tích sử dụng: 114,40 m2; Kết cấu: Mái tôn, sàn đúc + gỗ, tường xây, nền gạch hoa theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007.

Ngôi nhà ông Nguyễn Ngọc B thế chấp là nhà thờ của gia tộc do ông bà để lại cho ông B và hiện có 03 thế hệ đang sinh sống trong nhà nếu bán đi thì gia đình không có nơi trú ngụ để lao động mưu sinh. Bản thân ông B hiện tại rất mong muốn trả nợ, tuy nhiên ông B đã mất sức lao động hoàn toàn hiện đang bị bệnh hiểm nghèo và không còn khả năng lao động để chỉ trả số tiền nợ nêu trên. Số tiền vay tại các thời điểm vay thì các thành viên trong gia đình ông B hoàn toàn không biết, đến nay mới biết được. Chính vì vậy, ông B đề nghị Ngân hàng xem xét cho ông và gia đình được tạm dừng tính lãi suất, cơ cấu lại khoản nợ vay để trả tiền gốc mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng. Ông B sẽ trả trong vòng 12 năm.

Trong trường hợp vi phạm không thể thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng thì ông B đồng ý xử lý tài sản thế chấp theo quy định.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 bà Nguyễn Thị L nhưng những người này đều vắng mặt không có lý do.

Tại các văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 bà Nguyễn Thị L có cùng nội dung trình bày: Năm 2018, ông B có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số GCN: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/4/2007 để vay tiền của Ngân hàng TMCP N với số tiền vay ban đầu bao nhiêu thì ngay bản thân ông B cũng không nhớ rõ và đến thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì

ông B có nợ vay Ngân hàng TMCP N với số tiền nợ gốc là 1.490.488.590 đồng và nợ lãi là 137.369.672 đồng, tổng cộng là 1.632.868.262 đồng.

Tại thời điểm ông B vay tiền ngân hàng, gia đình hầu như không ai biết ông B vay nhằm sử dụng cho mục đích gì? Hồ sơ vay thế chấp không hỏi ý kiến và có chữ ký xác nhận có liên quan của người thân trong gia đình.

Về thủ tục hồ sơ vay thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có đúng quy định của pháp luật hay chưa? khi làm thủ tục làm hồ sơ cho vay thế chấp của ngân hàng thì phải có chữ ký đồng ý của người thân trong gia đình trước khi ký hợp đồng vay. Như vậy, việc đi vay ông B với ngân hàng đã thực hiện có đúng quy định của pháp luật hay chưa?

Đến thời điểm phát hiện ra món nợ ông B vay ngân hàng, gia đình mới biết và qua các năm đáo hạn ngân hàng thì bên Ngân hàng có bắt buộc ông B phải mua bảo hiểm nhân thọ (bình quân gần 30 triệu đồng trên 01 năm và giờ ông B nói ra mới biết). Việc làm của ngân hàng quá ép buộc cho người dân trong thời điểm khó khăn còn phải gánh thêm khoản nợ vay để mua bảo hiểm nhân thọ là việc làm chưa đúng (đến nay thì việc này đã bị cấm).

Ngôi nhà ông B thế chấp để vay là nhà thờ của gia tộc do ông bà để lại cho gia đình ở và hương khỏi cho ông bà tổ tiên, hiện có 03 thế hệ đang sinh sống trong nhà. Nếu bây giờ phát mãi ngôi nhà nêu trên thì gia đình không có chỗ trú ngụ để sinh sống và lao động mưu sinh, gia đình tôi thật sự rơi vào hoàn cảnh rất khó khăn.

Bản thân ông B hiện tại đã mất sức lao động hoàn toàn (hiện đang bị bệnh hiểm nghèo) và không còn khả năng lao động để chỉ trả số tiền nợ nêu trên. Số tiền ông B vay tại thời điểm đó thì các thành viên trong gia đình tôi hoàn toàn không biết, đến nay mới biết được. Chính vì vậy, theo nguyện vọng của gia đình xin xem xét cho ông B và gia đình được tạm dừng tính lãi suất, cơ cấu lại khoản nợ vay để trả tiền gốc hiện nay (trên 1,6 tỷ đồng) không tính lãi suất.

Tình hình thực tế của gia đình hiện nay: Ông B, bà C, bà L đều đã mất sức lao động, ông Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 là công nhân lao động phổ thông để sinh sống, mức lương thấp. Theo nguyện vọng của gia đình: Để trả được số tiền nợ trên, xin quý cấp tạo điều kiện cho gia đình tôi hằng tháng cùng góp vào để trả gốc cho ngân hàng số tiền là 10 triệu đồng/01 tháng trong thời gian là 12 năm.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là nhà và đất tại thửa đất số 378; tờ bản đồ số: 8 tại địa chỉ K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007. Nhà, đất hiện đang do Nguyễn Ngọc B quản lý, sử dụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:

  • - Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 bà Nguyễn Thị L mặc dù có văn bản trình bày ý kiến nhưng vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
  • - Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị HĐXX căn cứ các điều 299, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/11/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Ngọc B phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tính đến ngày 28/05/2024 là 1.927.151.616 đồng (Một tỷ, chín trăm hai mươi bảy triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm mười sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 1.490.488.590 đồng và nợ lãi là 436.663.026 đồng (lãi trong hạn: 100.242.702 đồng, lãi quá hạn: 326.127.007 đồng và lãi chậm trả lãi là 10.293.317 đồng).

Trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 378; tờ bản đồ số: 8; Địa chỉ thửa đất: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; Diện tích: 97,90 m2; Hình thức sử dụng: riêng: 97,90 m2; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nhà ở: Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở; Diện tích xây dựng: 96,00 m2; Diện tích sử dụng: 114,40 m2; Kết cấu: Mái tôn, sàn đúc + gỗ, tường xây, nền gạch hoa. (Theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007) sẽ được xử lý theo Điều 299 Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Ngọc B là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời bị đơn cư trú tại phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Về nội dung tranh chấp:

Ông Nguyễn Ngọc B đã ký Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0345/2020/415 CV ngày 26/05/2020, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022, Hợp đồng tín dụng từng lần số 0047/2022/415-TD-CV ngày 26/05/2022 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 0112/2022/415-TD-CV ngày 24/12/2022 để vay tiền tại Ngân hàng TMCP N. Các hợp đồng này được ký kết hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ.

Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0345/2020/415 CV ngày 26/05/2020 thì ông Nguyễn Ngọc B vay của Ngân hàng TMCP N số tiền 50.000.000 đồng và đã được giải ngân toàn bộ thông qua Giấy nhận nợ số 01/GNN-0345/2020/415-TD-CV ngày 27/5/2020 với Lãi suất: 12.2%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 27/05/2020 đến tháng 05/2025. Tuy nhiên đến nay, ông B mới trả được số tiền gốc là 26.720.000 đồng và mới trả lãi đến ngày 15/03/2023 với tổng số tiền lãi là 12.267.024 đồng.

Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số 0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022 thì ông Nguyễn Ngọc B vay của Ngân hàng TMCP N số tiền 200.000.00 đồng và đã được giải ngân toàn bộ thông qua Giấy nhận nợ số 01/GNN-0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022 với Lãi suất: 11.8%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Thời hạn vay: Từ ngày 22/03/2022 đến ngày 22/03/2023. Tuy nhiên đến nay, ông B chưa trả bất cứ khoản tiền gốc nào và mới trả lãi đến ngày 15/03/2023 với tổng số tiền lãi là 19.658.631 đồng.

Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số 0047/2022/415-TD-CV ngày 26/05/2022 thì ông Nguyễn Ngọc B vay của Ngân hàng TMCP N số tiền 1.060.000.000 đồng và đã được giải ngân toàn bộ thông qua Giấy nhận nợ số 01/GNN-0047/2022/415-TD-CV ngày 26/05/2022 với số tiền 8.60.000.000 đồng; Thời hạn vay: Từ ngày 26/05/2022 đến ngày 26/05/2023 và Giấy nhận nợ số 02/GNN-0047/2022/415-TD-CV ngày 27/05/2022 với số tiền 200.000.000 đồng; Thời hạn vay: Từ ngày 27/05/2022 đến ngày 26/05/2023; Lãi suất: 11.8%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Tuy nhiên đến nay, ông B chưa trả bất cứ khoản tiền gốc nào và mới trả lãi đến ngày 15/03/2023 với tổng số tiền lãi là 63.359.397 đồng và 15.815.892 đồng.

Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số 0112/2022/415-TD-CV ngày 24/12/2022 thì ông Nguyễn Ngọc B vay của Ngân hàng TMCP N số tiền 199.900.000 đồng và đã được giải ngân toàn bộ thông qua Giấy nhận nợ số 01/GNN-0112/2022/415-TD-CV ngày 04/01/2023 với Lãi suất: 16.5%/năm; Thời hạn vay: Từ ngày 04/01/2023 đến ngày 04/01/2024. Tuy nhiên đến nay, ông B chưa trả bất cứ khoản tiền gốc nào và mới trả lãi đến ngày 26/05/2023 với tổng số tiền lãi là 903.658 đồng.

Ông Nguyễn Ngọc B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán về tiền lãi hàng tháng và trả gốc khi khoản nợ đến hạn nên ngày 17/06/2023, Ngân hàng N đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của các Hợp đồng sang nợ quá hạn.

Ngoài ra, ông B đã khởi tạo kích hoạt thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, Hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ số 0436/2018/415/CV ngày 17/07/2018 và ông B đồng ý bị ràng buộc bởi Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng N. Theo đó, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tính đến ngày 28/05/2023 ông B còn nợ 7.308.590 đồng tiền gốc và 1.856.360 đồng tiền lãi trong hạn và 4.591.176 đồng tiền lãi quá hạn.

Xét ý kiến của ông Nguyễn Ngọc B trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa cũng như các văn bản trình bày ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, bà Nguyễn Thị L cùng trình bày theo hướng thống nhất mong muốn trả nợ, tuy nhiên ông B đã mất sức lao động hoàn toàn hiện đang bị bệnh hiểm nghèo và không còn khả năng lao động để chỉ trả số tiền nợ nêu trên. Số tiền vay trước đây tại Ngân hàng thì các thành viên trong gia đình ông B hoàn toàn không biết. Ngôi nhà ông B thế chấp để vay là nhà thờ của gia tộc do ông bà để lại cho gia đình ở và hương khỏi cho ông bà tổ tiên, hiện có 03 thế hệ đang sinh sống trong nhà. Chính vì vậy, đề nghị Ngân hàng xem xét cho ông B và gia đình được tạm dừng tính lãi suất, cơ cấu lại khoản nợ vay để trả tiền gốc mỗi tháng số tiền 10.000.000 đồng, ông B sẽ trả trong vòng 12 năm nhưng không được Ngân hàng đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận.

Ông Nguyễn Ngọc B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, vi phạm các hợp đồng tín dụng đã ký kết, là người có lỗi trong việc chậm thanh toán tiền nợ. Do vậy, yêu cầu của Ngân hàng N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận buộc ông B phải thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm - ngày 28/05/2024 là 1.927.151.616 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.490.488.590 đồng và nợ lãi là 436.663.026 đồng (lãi trong hạn: 100.242.702 đồng, lãi quá hạn: 326.127.007 đồng và lãi chậm trả lãi là 10.293.317 đồng), cụ thể như sau:

  • Theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0345/2020/415 CV ngày 26/05/2020 số tiền 28.059.964 đồng, trong đó: nợ gốc là 23.280.000 đồng và nợ lãi là 4.779.964 đồng (lãi trong hạn: 2.876.231 đồng, lãi quá hạn: 1.688.295 đồng và lãi chậm trả lãi là 215.438 đồng).
  • Theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0019/2022/415-TD-CV ngày 22/03/2022 số tiền 259.171.694 đồng, trong đó: nợ gốc là 200.000.000 đồng và nợ lãi là 59.171.694 đồng (lãi trong hạn: 5.470.137 đồng, lãi quá hạn: 53.027.671 đồng và lãi chậm trả lãi là 673.886 đồng).
  • Theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0047/2022/415-TD-CV ngày 26/05/2022 số tiền 1.373.879.902 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.060.000.000 đồng và nợ lãi là 313.879.902 đồng (lãi trong hạn: 58.665.534 đồng, lãi quá hạn: 248.475.617 đồng và lãi chậm trả lãi là 6.738.751 đồng).
  • Theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 0112/2022/415-TD-CV ngày 24/12/2022 số tiền 252.283.930 đồng, trong đó: nợ gốc là 199.900.000 đồng và nợ lãi là 52.383.930 đồng (lãi trong hạn: 31.374.440 đồng, lãi quá hạn: 18.344.248 đồng và lãi chậm trả lãi là 2.665.242 đồng).
  • Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, Hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ số 0436/2018/415/CV ngày 17/07/2018 ông B còn nợ số tiền 13.756.126 đồng, trong đó: nợ gốc là 7.308.590 đồng và nợ lãi là 6.447.536 đồng (lãi trong hạn: 1.856.360 đồng và lãi quá hạn: 4.591.176 đồng).

Ông Nguyễn Ngọc B phải chịu các khoản nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn là ông Nguyễn Ngọc B không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng N, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông B dùng tài sản thuộc sở hữu của mình là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 378; tờ bản đồ số: 8; Địa chỉ thửa đất: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; Diện tích: 97,90 m2; Hình thức sử dụng: riêng 97,90 m2; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nhà ở: Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở; Diện tích xây dựng: 96,00 m2; Diện tích sử dụng: 114,40 m2; Kết cấu: Mái tôn, sàn đúc + gỗ, tường xây, nền gạch hoa theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007 để thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) số 0076/2018/415-BĐ ngày 10/7/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 03/SĐ-0076/2018/415-BĐ ngày 26/05/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 07/SĐ-0076/2018/415-BĐ ngày 22/3/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 09/SĐ- 0076/2018/415-BĐ ngày 24/12/2022.

HĐXX xét thấy ông B là chủ sở hữu hợp pháp đối với nhà đất tại K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng nên có toàn quyền định đoạt dùng tài sản thuộc sở hữu của mình thế chấp cho Ngân hàng N và khi giao dịch không có trách nhiệm thông báo cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AI 611392 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007 không thể hiện đây là nhà thờ của gia tộc như ý kiến trình bày của bị đơn và người liên quan do đó Hợp đồng thế chấp và các phụ lục đều phát sinh hiệu lực. Trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì tài sản thế chấp nêu trên sẽ được xử lý theo Điều 299 của Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

  1. Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Ngọc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên, do ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1960, là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

  1. Về chi phí tố tụng:

Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bị đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

  • - Điều 299, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự;
  • - Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
  • - Khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N đối với ông Nguyễn Ngọc B.

Buộc ông Nguyễn Ngọc B phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tính đến ngày 28/05/2024 là 1.927.151.616 đồng (Một tỷ, chín trăm hai mươi bảy triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm mười sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 1.490.488.590 đồng và nợ lãi là 436.663.026 đồng (lãi trong hạn: 100.242.702 đồng, lãi quá hạn: 326.127.007 đồng và lãi chậm trả lãi là 10.293.317 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

Khi ông Nguyễn Ngọc B thanh toán xong các khoản nợ trên thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại cho ông B Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AI 611392 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007.

Trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 378; tờ bản đồ số: 8; Địa chỉ thửa đất: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; Diện tích: 97,90 m2; Hình thức sử dụng: riêng 97,90 m2; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nhà ở: Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở; Diện tích xây dựng: 96,00 m2; Diện tích sử dụng: 114,40 m2; Kết cấu: Mái tôn, sàn đúc + gỗ, tường xây, nền gạch hoa theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 611392, Số vào số cấp GCN quyền sử dụng đất: H 08010 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/04/2007 sẽ được xử lý theo Điều 299 Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

(Nhà đất hiện do ông Nguyễn Ngọc B đang trực tiếp quản lý sử dụng).

  1. Án phí Dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Ngọc B được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền 30.493.024 đồng (Ba mươi triệu, bốn trăm chín ba nghìn, không trăm hai mươi bốn đồng) tạm ứng án phí DS-ST đã nộp theo biên lai thu số 0002236 ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

  1. Chi phí tố tụng:

Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bị đơn phải chịu. Số tiền này Ngân hàng TMCP N đã chi, nên ông Nguyễn Ngọc B có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

  1. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự,

thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc ông Nguyễn Ngọc B phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tính đến ngày 28/05/2024 là 1.927.151.616 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger