Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/DSPT

Ngày: 15/4/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn.

Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2023/TLPT-DS ngày 23/10/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2023/QĐ-PT ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đào Đình S, sinh năm 1970. Có mặt;

Phạm Thị V, sinh năm 1972. Có mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Tuấn L, sinh năm 1999; Công ty L2, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Hoàng Thúy H, Công ty L2, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;

- Bị đơn: Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1959. Có mặt;

Nguyễn Thị T, sinh năm 1959. Có mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Đức T1, Công ty L3, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Vũ Thị H2, sinh năm 1979. Vắng mặt;
  2. Chị Vũ Thị H3, sinh năm 1985. Có mặt;
  3. Anh Vũ Tuấn A, sinh năm 1995. Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn P, thị trấn T, huyện L, Bắc Ninh.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1974; trú tại: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Có mặt;

Người kháng cáo: Bị đơn ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn là ông Đào Đình S, bà Phạm Thị V trình bày: Năm 2020, vợ chồng ông Nguyễn Tiến T2 và bà Phạm Thị L1 mua lại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 38, diện tích 88,1m² tại thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (viết tắt là thửa đất số 165) của chị Vũ Thị H2 và đã được chị H2, hộ liền kề là ông H1, đại diện cơ sở thôn P và đại diện UBND thị trấn T ranh giới sử dụng đất và ký vào biên bản kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ). Vì vậy, ông Nguyễn Tiến T2 và bà Phạm Thị L1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 11/5/2022, ông T2 và bà L1 đã chuyển nhượng lại thửa đất trên cho vợ chồng ông S, bà V.

Ngày 20/5/2022, vợ chồng ông S, bà V xin cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 165 mang tên ông bà.

Thửa đất của ông, bà tiếp giáp với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 38, diện tích 188m² tại Thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (viết tắt là thửa đất số 166) của gia đình ông Vũ Văn H1 và bà Nguyễn Thị T được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 2013.

Quá trình sử dụng, do muốn xây dựng nhà nên ông S, bà V đến gặp ông H1, bà T để xác định mô mốc, ranh giới thì thấy hiện trạng mô mốc, ranh giới thửa đất của ông bà đã mua không đúng với mô mốc, ranh giới theo giấy chứng nhận QSDĐ. Cụ thể, gia đình ông H1, bà T đã xây dựng một số công trình lấn sang phần đất của ông bà đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ là 40,6m². Do đó, ông bà đề nghị Tòa án buộc ông H1, bà T phải phá dỡ các công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm và trả lại cho ông bà diện tích đã lấn chiếm là 40,6m². Ngoài ra, ông S, bà V không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn là ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T trình bày: Năm 1987, gia đình ông bà được địa phương cấp cho 01 thửa đất tại thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, tổng diện tích 455,2m². Năm 2012,ông bà đã tách thửa đất trên làm 03 phần để cho các con. Cụ thể: Cho chị Vũ Thị H2 thửa đất ngoài cùng có diện tích 88,1m², chị H2 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và đã xây dựng nhà trên thửa đất đó; ông bà sử dụng thửa đất liền kề với thửa đất của chị H2 có diện tích 188,0m²; cho anh Vũ Duy H4 179,1m², anh H4 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và đã xây nhà trên thửa đất đó.

Hiện trạng 03 hộ vẫn sử dụng mô mốc và diện tích theo đúng như giấy chứng nhận QSDĐ đã được cấp. Do có nhu cầu chuyển đổi chỗ ở nên năm 2020, chị H2 đã chuyển nhượng thửa đất của chị H2 cho vợ chồng ông T2 và bà L1, khi chuyển nhượng cho ông T2 và bà L1 thì ông bà và chị H2 đã chỉ mô mốc cụ thể; giao giấy chứng nhận QSDĐ và ký giáp ranh như mô mốc mà chị H2 đã bàn giao cho ông T2 và bà L1 nên ông T2, bà L1 mới được sử dụng 88,1m². Từ trước đến nay, ông bà vẫn sử dụng đúng diện tích và trích lục bản đồ do cơ quan Nhà nước đã cấp. Sau đó, ông T2, bà L1 đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ không đúng với mô mốc mà ông bà đã ký giáp ranh. Tiếp đó, ông T2, bà L1 chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Đào Đình S và bà Phạm Thị V.

Nay vợ chồng ông S, bà V cho rằng bị thiếu diện tích đất so với giấy chứng nhận QSDĐ được cấp và kiện đòi ông bà là không đúng. Vợ chồng ông S, chỉ có 88,1m²; ông, bà có 188,0m² nếu vợ chồng ông S, bà V đòi thêm đất sang phần đất của ông bà thì ông bà lại thiếu.

Do không có nhu cầu sử dụng thửa đất nên năm 2021 anh H4 đã chuyển nhượng thửa đất của anh H4 cho anh Bùi Duy V1 có diện tích 179,1m². Hộ anh V1 vẫn sử dụng đất theo đúng mô mốc mà anh H4 bàn giao.

Nay ông S, bà V cho rằng anh V1 đã sử dụng đất lấn sang phần đất của ông bà là không đúng. Vì mô mốc ông bà đã bàn giao và sử dụng từ trước đến giờ vẫn sử dụng đúng như hiện trạng. Việc anh V1 thừa đất là việc của anh V1 với địa phương chứ gia đình ông bà không liên quan gì. Hộ anh V1 thừa đất là do giữa thửa đất của anh V1 giáp với thửa đất nhà ông V2 trước kia còn có 01 con đường nhỏ để người dân đi lại, nay anh V1 sử dụng phần đất đó nên mới thừa đất. Do vậy, ông bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra ông, bà không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị H2, Vũ Thị H3 và anh Vũ Tuấn A đều trình bày: Các anh chị là con của ông Vũ Văn H1 và bà Nguyễn Thị T. Năm 2013, hộ ông Vũ Văn H1 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên hộ ông Vũ Văn H1 được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 120, tờ bản đồ số 38, diện tích 188m² (nay là thửa số 166) tại thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ, các anh chị đều có tên trong danh sách hộ khẩu của gia đình. Anh chị khẳng định thửa đất đã được Nhà nước cấp cho hộ ông H1 theo đúng quy định của pháp luật. Nay ông Đào Đình S và bà Phạm Thị V cho rằng thửa đất của bố mẹ anh chị có lấn sang thửa đất của ông bà là không có căn cứ vì từ khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông H1 thế nào thì vẫn sử dụng theo đúng hiện trạng và diện tích như vậy. Khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ, các hộ liền kề đều ký giáp ranh và anh chị đều xác định không đóng góp công sức vào tài sản của bố mẹ. Ngoài ra, anh chị không yêu cầu gì khác.

Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 235; Điều 264; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166; Điều 170; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 158; Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 175; Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đào Đình S và bà Phạm Thị V.

- Buộc ông Vũ Văn H1 và bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên diện tích 40,6m²đất của thửa đất số 165, tờ bản đồ số 38, diện tích 88,1m² tại thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và trả lại ông Đào Đình S và bà Phạm Thị V diện tích 40,6m²đất lấn chiếm. (có sơ đồ kèm theo).

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/8/2023, ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông H1, bà T nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông H1, bà T, Hội đồng xét xử thấy:

Thứ nhất, thửa đất số 165 cấp lần đầu cho chị Vũ Thị H2. Phía bị đơn và chị H2 đều thừa nhận từ khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đến nay ranh giới không thay đổi, sử dụng ổn định, không xảy ra tranh chấp. Tuy nhiên, ông Nguyễn Tiến T2 là người nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ chị H2 năm 2020 lại trình bày: Khi đi làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSDĐ thì Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện L kiểm tra hiện trạng thì phát hiện ngôi nhà cấp 4 loại 1 của chị H2 đã xây dựng một phần trên đất giao thông và một phần trên thửa đất của hộ ông H1; chị H2 và ông H1 có ký xác nhận nên vợ chồng ông mới được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

Tại biên bản xác minh ngày 13/7/2023 (bút lục 87) thể hiện: Năm 2017, khi đo đạc bản đồ, cán bộ địa chính không nắm rõ được mô mốc của gia đình đã sử dụng nên đã đo 5,5m² đất ở phía Tây của chị H2 ra đất giao thông đồng thời đo 55,6m² đất giao thông ở phía Bắc vào đất của chị H2. Năm 2020, vợ chồng ông T2, bà L1 mua lại thửa đất trên của chị H2 thì cơ quan có thẩm quyền đã chỉnh lý bản đồ địa chính, cắt trả 55,6m² đất giao thông ở phía Bắc để trả lại tập thể đồng thời chỉnh lý 5,5m² đất ở đã đo ra đất giao thông để trả lại cho chủ sử dụng theo đúng ranh giới và diện tích đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ là 88,1m²; chủ sử dụng đất cũ là chị H2, hộ liền kề là ông Vũ Văn H1, đại diện cơ sở thôn PUBND thị trấn T ranh giới sử dụng đất và ký vào biên bản kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ nên ông T2 và bà L1 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Thứ hai, căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH X cung cấp thì thấy, thửa đất của hộ ông H1 lấn sang thửa đất của ông S và bà V diện tích 40,6m²; thửa đất của anh V1 lấn sang thửa đất của hộ ông H1 và sử dụng thừa diện tích so với hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

Ông H1 trình bày diện tích thửa đất của gia đình ông trước khi tách thửa là 455,2m². Tuy nhiên, khi cộng tổng diện tích của 03 thửa đất sau khi tách thì diện tích lại thừa so với thửa đất ban đầu khi chưa tách của ông H1. Ông H1, bà T cho rằng thửa đất của anh V1 thừa là do trước đây giữa thửa đất của anh V1 giáp với thửa đất nhà ông V2 còn có 01 con đường nhỏ để người dân đi lại qua. Nay anh V1 sử dụng phần đất đó nên mới thừa đất nhưng ông không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh cho điều này.

Tòa án đã tiến hành xác minh, đại diện UBND thị trấn T cho biết: Sau khi kiểm tra bản đồ cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 2000 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B phê duyệt và bản đồ hiện trạng năm 2017 thì giữa thửa đất của gia đình anh V1 và thửa đất của gia đình anh V2 không có con đường dân sinh nào đi qua. Như vậy, lời trình bày của ông H1 là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở kết quả đo đạc về hiện trạng sử dụng đất so với GCNQSD đất đã cấp cho các hộ,bản án sơ thẩm xác định ông H1, bà T đã xây dựng một số công trình lấn sang phần đất của ông S, bà V có diện tích 40,6m² và buộc ông H1 và bà T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên đất để trả lại ông S, bà V diện tích 40,6m²đất là có căn cứ.

Án phí: Ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T; giữ nguyên quyết định Bản án sơ thẩm số 17/2023/DSST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị T.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Lương Tài;
  • - Chi cục THADS huyện Lương Tài;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DSPT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 49/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger