Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST

Ngày: 20/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Vũ Văn Tám
  2. Ông Phan Thanh Bắc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hờ A S; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1995 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hờ Giống T (Đã chết) và Con bà: Hờ Thị D; Vợ: Giàng Thị D1; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/8/2023 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị X - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).
  • * Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Lầu A S1 - Sinh năm: 1994; Nơi công tác: Phòng Tư pháp huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
  • * Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Hải B - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Văn B1 - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Điện Biên.
  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Quàng Văn T1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật: Ông Chá A T2 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hờ A S đã được tham gia vào các buổi phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng tại thôn bản và được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng tại bản P, xã M, huyện Đ. Để có đất trồng lúa nương, nên khoảng 07 giờ 30 phút một ngày trong tháng 01 năm 2023, Hờ A một mình mang theo 01 con dao quắm đi đến rừng phòng hộ TXK (rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt), trữ lượng 46,12m³/ha, có nhiều cây gỗ to nhỏ khác nhau, đường kính trung bình 16,96cm, chiều cao trung bình 9,95m, dưới tán cây có dây leo, cây cối rậm rạp, thuộc khoảnh 6, tiểu khu F, bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ quản lý và bảo vệ. Tại đây, S dùng dao quắm phát các cây dây leo, thảm thực vật và chặt phá các cây gỗ nhỏ, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì S về nhà.

Khoảng 10 ngày sau, S mang theo 01 chiếc máy cưa xăng cùng 02 can đựng xăng và dầu nhớt đến khu rừng đang phá để cắt hạ các cây gỗ có đường kính to, S cắt đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì S về nhà. Ngày hôm sau S tiếp tục dùng cưa để cắt hạ các cây gỗ thì cưa bị hỏng, nên không cắt nữa mà về nhà chờ cho cây khô để đốt. Do bị Hạt Kiểm lâm huyện Đ phát hiện, nên S không đốt nữa.

Ngày 17/3/2023, Hạt kiểm lâm huyện Đ phối hợp với các cơ quan chức năng cùng Hờ A S tiến hành khám nghiệm hiện trường đã xác định diện tích rừng Hờ A chặt phá là 4.030m². Số cây bị phá là 228 cây trong đó có 153 cây có d1.3≥8 cm và có 75 cây có d1.3<8 cm.

Trong quá trình điều tra nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật; bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Tại Kết luận giám định số: 21/KL-GĐ ngày 08/7/2023 của Chi cục kiểm lâm thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đ kết luận: Khu rừng bị chặt phá trái pháp luật có diện tích 4.030m² tại khoảnh 6, tiểu khu F đến thời điểm tổ công tác tiến hành kiểm tra, khám nghiệm hiện trường có rừng tự nhiên, loại rừng phòng hộ; Trạng thái rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt; Diện tích rừng bị chặt phá chưa giao, chưa cho thuê, hiện UBND xã M đang quản lý, bảo vệ.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-ĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Tổng thiệt hại trên diện tích 4.030m² bị chặt phá là 20.206.470 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá trên của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 30/11/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng thép, cán bằng gỗ, tổng chiều dài lưỡi dao, chuôi dao và cán gỗ 99cm; chiều dài lưỡi dao 26cm, chiều dài chuôi dao 10cm, chiều dài cán gỗ 63cm, mỏ quắm dài 5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, đường kính của cán gỗ 3cm, dao cũ, đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số: 254/CT-VKS-HĐB ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hờ A S2 về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự xử phạt bị cáo Hờ A S2 với mức hình phạt tù 01 năm 06 tháng tù đến 01năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm đến 03 năm 06 tháng về tội Hủy hoại rừng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 07/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Hờ A.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sụ buộc bị cáo Hờ A S2 phải bồi thường cho Nhà nước số tiền còn lại là: 10.206.470 đồng.
  • * Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm cán gỗ dài 99cm là vật chứng của vụ án.
  • * Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Tại luận cứ bào chữa cho bị cáo H A Sú ngày 20/12/2023 bà Lò Thị X đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điểu 65 Bộ luật hình sụ cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian tiếp tục khắc phục hậu quả và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bởi vì: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sinh sống đều phụ thuộc vào nương rẫy, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng pháp luật, ngoài ra bị cáo còn là lao động chính của gia đình.

Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại là 10.206.470 đồng cho Nhà nước. Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không bổ sung lời bào chữa.

Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận trong tháng 01/2023, Hờ A S2 đã có hành vi dùng dao quắm và máy cưa xăng chặt phá, hủy hoại 4.030 m² rừng phòng hộ, thuộc khoảnh 6, tiểu khu F, bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, mục đích để trồng lúa nương. Gây thiệt hại số tiền 20.206.470 đồng.

Vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: “1. Nguời nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các truờng hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 āồng đến 500.000.000 ãồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m²) đến quới 7.000 mét vuông (m²)”.

Hành vi trên của Hờ A S2 được chứng minh tại: Biên bản đo đếm diện tích, biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tính toán trữ lượng rừng bị thiệt hại, kết luận định giá, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hờ A S2 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Hờ A S2 về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi dùng dao quắm chặt và máy cưa xăng chặt phá rừng của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển rừng (tài nguyên rừng), gây thiệt hại rất lớn đến môi trường sinh thái, làm gia tăng các biến đổi khí hậu do tác hại của việc hủy hoại rừng gây ra và xâm phạm đến tài sản của Nhà nước. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, muốn có đất để làm nương nên đã chặt phá rừng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả (bị cáo đã bồi thường được 10.000.000 đồng), nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Mặt khác, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sụ. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện được tự cải tạo, tu dưỡng rèn luyện tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng tù đến 01năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm đến 03 năm 06 tháng về tội Hủy hoại rừng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đối với đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng án treo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Xét đề nghị của người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sụ; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hờ A S2 phải bồi thường cho Nhà nước số tiền: 20.206.470 đồng, đã bồi thường được 10.000.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp 10.206.470 đồng. Đối với thiệt hại về môi trường, Hội đồng định giá tài sản không có đủ cơ sở để xác định về thiệt hại môi trường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng thép, cán bằng gỗ, tổng chiều dài lưỡi dao, chuôi dao và cán gỗ 99cm; chiều dài lưỡi dao 26cm, chiều dài chuôi dao 10cm, chiều dài cán gỗ 63cm, mỏ quắm dài 5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, đường kính của cán gỗ 3cm, dao cũ, đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.

[6] Đối với chiếc máy cưa xăng do bị hỏng nên S2 đã bán cho người mua sắt vụn không quen biết, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với UBND xã M và cán bộ kiểm lâm địa bàn có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, quá trình điều tra xét thấy các cán bộ được phân công nhiệm vụ đã thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao, kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sụ quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào nương rẫy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Hờ A S2 phạm tội: "Hủy hoại rừng".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Hờ A S2 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm 20/12/2023.
    • Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
    • * Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 07/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Hờ A.
    • * Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sụ: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng thép, cán bằng gỗ, tổng chiều dài lưỡi dao, chuôi dao và cán gỗ 99cm; chiều dài lưỡi dao 26cm, chiều dài chuôi dao 10cm, chiều dài cán gỗ 63cm, mỏ quắm dài 5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, đường kính của cán gỗ 3cm, dao cũ, đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.
  4. Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hờ A phải có trách nhiệm bồi thường cho Nhà nước số tiền là: 20.206.470 đồng (Hai mươi triệu, hai trăm linh sáu nghìn, bốn trăm bẩy mươi đồng), bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số: 0000092 ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Buộc bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 10.206.470 đồng (Mười triệu, hai trăm linh sáu nghìn, bốn trăm bẩy mươi đồng).
  6. Về án phí: Căn cú khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự cho bị cáo.
  7. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường cho Nhà nước, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  8. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự - người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

  9. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/12/2023). Nguyên đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã Mường Pôn huyện ĐB;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm về tội hủy hoại rừng

  • Số bản án: 49/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hờ A S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger