|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 20-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;
- 2. Ông Trang Văn Hận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 04/9/1996 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1953; gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Ngày 14/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2023; nhân thân: Ngày 28/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2020; ngày 22/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (bản án đã có hiệu lực pháp luật); tạm giữ: Không; bắt tạm giam: Từ ngày 15/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Huỳnh Văn B, sinh năm 1968 (có mặt). Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Đặng Thị X, sinh năm 1982 (có mặt). Nơi cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hồ Hoàng H, sinh năm 1988 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Đặng Thị Á, sinh năm 1973 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Văn D, sinh năm 1955 (có mặt). Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T có 01 (một) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án Nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù vào ngày 14/12/2022, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/9/2023. Do muốn nhanh chóng có tiền thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của bản thân nên Nguyễn Thanh T đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, cụ thể như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 08/3/2024, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 66L2-2686 đến khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để tìm tài sản lấy trộm. T quan sát thấy bên trong trại nuôi bò của anh Huỳnh Văn B có 01 (một) cái bình ắc quy màu trắng, nhãn hiệu Đồng Nai, loại 40 Ampe, không có người trông coi nên T đã lén lút lấy trộm rồi điều khiển xe mô tô chạy theo hướng từ khóm C đi khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để đem tài sản trộm đi bán. Khi đến gần cuối đoạn đường thuộc khóm C, phường A, thành phố H, T phát hiện chị Đặng Thị X, đang điều khiển xe mô tô chạy cùng chiều phía trước, có để 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh trong túi áo khoác, T nảy sinh ý định cướp giật điện thoại nên điều khiển chạy chậm lại phía sau chị X, sau đó điều khiển xe vượt lên ngang xe của chị X và dùng tay giật lấy cái điện thoại di động, làm chị X té ngã xuống đường; T điều khiển xe chạy được một đoạn thì vấp té ngã và làm rớt điện thoại di động xuống đường, chị X chạy lại nhặt lấy điện thoại thì T dựng xe lên đi đến hỏi xin tiền chị X nhưng chị X không cho. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở bình ắc quy rời khỏi hiện trường.
Quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra làm rõ hành vi trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản vào ngày 08/3/2024 tại địa bàn thành phố H thì đến ngày 06/4/2024, Nguyễn Thanh T còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là bình ắc quy của anh Nguyễn Văn M tại ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Hiện vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đưa vụ án ra xét xử (xử phạt 01 năm tù vào ngày 22/7/2024).
- Vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A78, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu WAYMOTO, kiểu dáng Wave, màu đen, biển kiểm soát 66L2-2686, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu vàng, viền tay áo và viền cổ áo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần jean dài màu xanh, có trang trí bằng các vết rách ở phía trước hai ống quần; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, họa tiết trên quai dép màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) mủ bảo hiểm màu trắng, vành nón màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đĩa DVD-R-4,7G 1-16X SPEED bên trong có chứa dữ liệu điện tử; Đối với 01 (một) cái bình ắc quy màu trắng, nhãn hiệu Đồng Nai, loại 40 Ampe, không thu hồi được.
- Bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐG, ngày 06 tháng 5 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản - tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị 01 (một) cái bình ắc quy màu trắng, nhãn hiệu Đồng Nai, loại 40 Ampe là 500.000 đồng; giá trị 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A78, màu xanh, đã qua sử dụng là 5.500.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý, trả lại cho Đặng Thị X 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A78, màu xanh, đã qua sử dụng.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKSTPHN, ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 và điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản".
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản"
- Áp dụng Điểu 55 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt 2 tội, đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức hình phạt chung của 02 tội từ 04 năm 09 tháng đến 06 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 và khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với việc Nguyễn Thanh T trộm cắp tài sản vào ngày 06/4/2024 tại ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Khi khởi tố vụ án, bị can đối với T, Cơ quan điều tra Công an thành phố H có văn bản đề nghị chuyển vụ án của Nguyễn Thanh T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thụ lý giải quyết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H có văn bản số 341/CV-ĐTTH, ngày 25/6/2024 thông báo về việc vụ án Nguyễn Thanh T đã kết thúc điều tra Viện kiểm sát đã truy tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hành vi trên của Nguyễn Thanh T đã được Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử vào ngày 22/7/2024 xử phạt bị cáo 01 năm tù (Bản án số: 29/2024/HS-ST đã có hiệu lực pháp luật vào ngày 26/8/2024) nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 bản án theo quy định pháp luật.
- Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý, trả lại cho Đặng Thị X 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A78, màu xanh, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu WAYMOTO, kiểu dáng Wave, màu đen, biển số 66L2-2686; trả lại cho Nguyễn Thanh T: 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu vàng, viền tay áo và viền cổ áo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần jean dài màu xanh, có trang trí bằng các vết rách ở phía trước hai ống quần; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, họa tiết trên quai dép màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, vành nón màu đen, đã qua sử dụng; Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD-R-4,7G 1-16X SPEED bên trong có chứa dữ liệu điện tử.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thanh T tự nguyện thỏa thuận khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại Huỳnh Văn B với số tiền 400.000 đồng, bị cáo đã khắc phục xong. Bị hại Đặng Thị X đã nhận lại tài sản không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đề nghị Hội đồng xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Các bị hại Huỳnh Văn B và Đặng Thị X yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật; về trách nhiệm dân sự do đã nhận xong tài sản và nhận xong tiền bồi thường nên không có yều cầu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D xin được nhận lại 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu WAYMOTO, kiểu dáng Wave, màu đen, biển số 66L2-2686; riêng phần tiền ông khắc phục cho ông B đối với thiệt hại do bị cáo gây ra thì ông không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Do không có nghề nghiệp nhưng lại muốn nhanh có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản của người khác. Cụ thể là: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, tại trại của anh Huỳnh Văn B thuộc khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, do thấy trong trại không có người, T đã lén lút lấy trộm 01 bình ắc quy màu trắng, nhãn hiệu Đồng Nai loại 40 Ampe đem ra khỏi trại nhằm mục đích đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trên đường đem tài sản đi bán, T lại tiếp tục dùng thủ đoạn nguy hiểm, sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tiếp cận chị Đặng Thị X đang điều khiển xe mô tô cướp giật tài sản của chị X 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh rồi tẩu thoát.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐG, ngày 06 tháng 5 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản - tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị 01 (một) cái bình ắc quy màu trắng, nhãn hiệu Đồng Nai, loại 40 Ampe là 500.000 đồng; giá trị 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A78, màu xanh, đã qua sử dụng là 5.500.000 đồng.
Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo, các bị hại, người cò quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 và điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm”
Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản:
“1. Người nào Trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
a) ...;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Thanh T có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, từng nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đáng ra, qua các lần bị xử phạt trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, ra sức lao động để tìm cho mình một việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ công sức lao động của mình, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại do không chí thú làm ăn lại muốn nhanh có tiền tiêu xài, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện. Riêng đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo còn được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã khắc phục xong hậu quả do hành vi phạm tội mình gây ra. Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc hơn mức hình phạt đã xét xử đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Đối với hành vi Trộm cắp tài sản của Nguyễn Thanh T vào ngày 06/4/2024 tại ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Khi khởi tố vụ án, bị can đối với Nguyễn Thanh T, Cơ quan điều tra Công an thành phố H có văn bản đề nghị chuyển vụ án của Nguyễn Thanh T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thụ lý giải quyết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H có văn bản số 341/CV-ĐTTH, ngày 25/6/2024 thông báo về việc vụ án Nguyễn Thanh T đã kết thúc điều tra Viện kiểm sát đã truy tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra vụ án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hành vi trên của Nguyễn Thanh T đã được Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử vào ngày 22/7/2024 xử phạt bị cáo 01 năm tù (bản án số: 29/2024/HS-ST), bản án đã có hiệu lực pháp luật vào ngày 26/8/2024 nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt hình phạt bản án trên với hình phạt bản án xét xử bị cáo theo quy định pháp luật.
[7] Về vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý, trả lại cho Đặng Thị X 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A78, màu xanh, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu WAYMOTO, kiểu dáng Wave, màu đen, biển số 66L2-2686, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Văn D. Việc T sử dụng xe mô tô trên thực hiện hành vi phạm tội ông D không biết, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điểu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho ông Nguyễn Văn D là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu vàng, viền tay áo và viền cổ áo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần jean dài màu xanh, có trang trí bằng các vết rách ở phía trước hai ống quần; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, họa tiết trên quai dép màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, vành nón màu đen, đã qua sử dụng. Qua điều tra làm rõ xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thanh T, không liên quan đến hành vi phạm tội. Theo quy định pháp luật, phải tuyên trả lại cho bị cáo, tại phiên tòa, bị cáo cho rằng đồ dùng cá nhân trên không còn giá trị, không yêu cầu nhận lại và đề nghị Hội đồng xét xử tiêu hủy nên Hội đồng xét xử căn cứ Điểu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 (một) đĩa DVD-R-4,7G 1-16X SPEED bên trong có chứa dữ liệu điện tử. Đây là vật chứng liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điểu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với bình ắc quy bị cáo chiếm đoạt của anh Huỳnh Văn B, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra không thu hồi được, bị cáo Nguyễn Thanh T tự nguyện thỏa thuận khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại Huỳnh Văn B giá trị của bình Ắc quy với số tiền 400.000 đồng, bị cáo đã khắc phục xong, anh B đã nhận xong tiền bồi thường. Bị hại Đặng Thị X đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 và khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 15/6/2024).
3. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01(một) năm tù bị cáo Nguyễn Thanh T bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số: 29/2024/HS-ST, ngày 22/7/2024), hình phạt chung của 2 bản án bị cáo phải chấp hành là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: Ngày 15/6/2024.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu WAYMOTO, kiểu dáng Wave, màu đen, biển số 66L2-2686.
Tịch thu tiêu hùy: 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu vàng, viền tay áo và viền cổ áo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần jean dài màu xanh, có trang trí bằng các vết rách ở phía trước hai ống quần; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, họa tiết trên quai dép màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, vành nón màu đen, đã qua sử dụng.
(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2024)
Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD-R-4,7G 1-16X SPEED bên trong có chứa dữ liệu điện tử.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/9/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự: cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
