Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Phước Thọ
  • Ông Trần Văn Tiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Võ Hữu T, sinh năm: 1982, địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (Anh T có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1986, địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (Chị T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Võ Hữu T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thanh T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài nhưng anh chị vẫn không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay anh xác định vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1. Anh T không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Hoàng T2, sinh ngày 16/5/2014 và Võ Thủy T3, sinh ngày 22/6/2012. Sau khi ly hôn, anh T đồng ý để chị T1 nuôi 02 con chung. Anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con chung là 2.500.000 đồng/tháng).

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị T1 đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của chị T1.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị T1 kéo dài đã nhiều năm nhưng anh chị không tự khắc phục được. Trong suốt quá trình tố tụng, chị T1 vắng mặt, điều đó cho thấy chị T1 không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Hoàng T2, sinh ngày 16/5/2014 và Võ Thủy T3, sinh ngày 22/6/2012, hiện đang sống với chị T1 và anh T cũng đồng ý để chị T1 tiếp tục nuôi 02 con chung. Xét thấy, từ khi anh T ly thân chị T1 cho đến nay thì chị T1 là người trực tiếp nuôi 02 con chung. Do đó, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của 02 con chung nên đề nghị Tòa giao 02 con chung cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận việc anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị T1 mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con chung là 2.500.000 đồng/tháng).

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T khai không có nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa anh Võ Hữu T và chị Nguyễn Thị Thanh T1 là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 có nơi cư trú tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T1.

Nguyên đơn anh Võ Hữu T có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Võ Hữu T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Anh Võ Hữu T và chị Nguyễn Thị Thanh T1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 09/01/2012 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Anh T xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau. Từ năm 2023 đến nay, vợ chồng anh T và chị T1 đã sống ly thân. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của Tòa án cũng xác định anh T và chị T1 đã ly thân được một thời gian. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị T1 không tham gia phiên hòa giải, điều đó cho thấy chị T1 không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T. Ghi nhận anh T không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung tên Võ Hoàng T2, sinh ngày 16/5/2014 và Võ Thủy T3, sinh ngày 22/6/2012. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi anh T ly thân chị T1 đến nay chị T1 là người trực tiếp nuôi 02 con chung. Tại biên bản lấy ý kiến của Tòa án thì cháu Võ Hoàng T2 và Võ Thủy T3 có nguyện vọng được sống cùng chị T1. Anh T cũng đồng ý để chị T1 được trực tiếp nuôi 02 con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho 02 con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cho chị T1 được trực tiếp nuôi cháu Võ Hoàng T2, sinh ngày 16/5/2014 và Võ Thủy T3, sinh ngày 22/6/2012 cho đến khi cháu T2 và cháu T3 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy chị T1 vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị T1 về nội dung này. Tuy nhiên, anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị T1 mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con chung là 2.500.000 đồng/tháng). Hội đồng xét xử nhận thấy đây là sự tự nguyện của anh T và sự tự nguyện này phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị T1 mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con chung là 2.500.000 đồng/tháng). Về thời gian cấp dưỡng nuôi 02 con chung tính từ khi xét xử sơ thẩm tháng 6 năm 2024 cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh T khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy, chị T1 vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị T1 về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.

[5] Về án phí: Anh Võ Hữu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Anh Võ Hữu T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 115, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho anh Võ Hữu T ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T1. Ghi nhận anh Võ Hữu T không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Hoàng T2, sinh ngày 16/5/2014 và Võ Thủy T3, sinh ngày 22/6/2012 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Võ Hữu T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con cho chị T1 mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con chung là 2.500.000 đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi 02 con chung tính từ tháng 6 năm 2024 đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.

    Anh Võ Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Anh Võ Hữu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002040 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh Võ Hữu T đã nộp đủ án phí.

    Anh Võ Hữu T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Anh Võ Hữu T còn phải nộp án phí.

    Anh Võ Hữu T, chị Nguyễn Thị Thanh T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo qui định tại điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được qui định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng GĐKT TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Quới Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger