Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Bắc

Ông Quản Giang Thao

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/2/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1993 (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt)

Cùng HKTT: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn chị Bùi D trình bày:

Chị và anh Nguyễn Tiến Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20/11/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng cũng đã được gia đình và bạn bè khuyên giải nhiều nhưng không hoà hợp được. Vợ chồng đã ly thân được khoảng 01 năm nay, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Đ.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tiến H, sinh ngày 17/5/2014 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 13/11/2017. Chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hiếu K. Còn cháu Nguyễn Tiến H thì giao cho anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Chị D không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Tiến Đ trình bày tại bản tự khai ngày 11/7/2024 như sau:

Về hôn nhân: Anh và chị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20/11/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị D.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tiến H, sinh ngày 17/5/2014 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 13/11/2017. Nay ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và đồng ý giao cháu K cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản tự khai ngày 17/6/2024 cháu Nguyễn Tiến H trình bày nguyện vọng xin được ở với bố.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần thông báo phiên hoà giải, tiếp cận công khai chứng cứ, tuy nhiên anh Đ không đến tham gia các phiên hoà giải và tiếp cận công khai chứng cứ theo thông báo của toà án.

Kết quả xác minh tại địa phương:

Anh Nguyễn Tiến Đ và chị Bùi Thị D tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký hôn tại UBND xã H, huyện T (nay là phường H, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 08/11/2023. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau tại phường H. Anh chị xảy ra mâu thuẫn từ năm 2023 do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tiến H, sinh ngày 17/5/2014 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 13/11/2017. Hiện nay anh chị đã ly thân, cháu H đang ở với anh Đ còn cháu K đang ở cùng chị D1.

Tại phiên tòa, chị D1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị cho chị được ly hôn anh Đ. Anh Đ vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,55,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D1, cho Chị D1 được ly hôn anh Đ; về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Tiến H cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Hiếu K cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Về án phí: Chị D1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Xét yêu cầu của chị Bùi Thị D1:

[2.1] Về hôn nhân:

Chị D1 và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã N, Thanh Hóa ngày 20/11/2013 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau. Chị D1 làm đơn ly hôn, anh Đ cũng đồng ý ly hôn. Chứng tỏ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp với quy định tại các Điều 51,55 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tiến H, sinh ngày 17/5/2014 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 13/11/2017. Căn cứ lời khai của anh chị, cả anh Đ và chị D1 đều có quan điểm thống nhất đề nghị giao cháu H cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Phù hợp với nguyện vọng của cháu H. Anh chị đều là lao động tự do có sức khỏe tốt, có điều kiện nuôi dạy con tốt. Vì vậy, nguyện vọng nuôi được trực tiếp nuôi con như anh chị đã trình bày là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh chị đều không yêu cầu nên toà án không xem xét.

[4] Về tài sản và vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D

- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D được ly hôn anh Nguyễn Tiến Đ.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tiến H, sinh ngày 17/5/2014 và Nguyễn Hiếu K, sinh ngày 13/11/2017. Giao cháu Nguyễn Tiến H cho anh Nguyễn Tiến Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Hiếu K cho chị Bùi Thị D1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị D1 và anh Đ được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

- Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0007041 ngày 16/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị D1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Bùi Thị D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Tiến Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND xã Hải Thanh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.
 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger