Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thi Thị Thanh Trúc;

Ông Thạch Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vĩnh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử công khai sơ thẩm với hình thức trực tuyến; địa điểm mở phiên tòa tại hai điểm cầu:

  1. Điểm cầu Trung tâm tại phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
  2. Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh đối với vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 24 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Trung T, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2001; nơi sinh: tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1979; anh chị em ruột: Có 01 người, sinh năm 2015; vợ, con: Chưa có; nhân thân: Không tốt; tiền sự: Không; tiền án: 01 lần. Vào ngày 26/02/2021, Lê Trung T bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, tuyên phạt 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản, đến nay Tín chưa được xoá án tích; bị cáo Lê Trung T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện C).

- Bị hại:

  1. Chị Lê Kim C, sinh năm 1973 (có mặt); nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Anh Hồ Hữu P, sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt); nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  3. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1958 (có đơn xin vắng mặt); nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thanh K1, sinh năm 1982 (vắng mặt); nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1979 (vắng mặt); nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 16/9/2023, Lê Trung T, ngụ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, một mình đi bộ từ nhà cha ruột thuộc ấp Ô, xã L, huyện C để tìm tài sản trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến khu vực nhà chị Lê Kim C, cùng ấp phát hiện nhà chị C không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm tài sản. Lúc này, T phát hiện nhà chị C có lắp camera nên T nhặt lấy 01 cây củi để đẩy 03 chiếc camera được lắp xung quanh nhà lên cao để tránh bị phát hiện, sau đó T leo lên ban công mở cửa rồi đi vào bên trong nhà lấy trộm 01 mô tơ điện, 05 gói mì tôm Hảo Hảo chua cay, 06 gói thuốc lá điếu hiệu S bạc rồi bỏ vào trong bao thức ăn lấy gần đó. Khi lấy được tài sản T mang ra ngoài cất giấu vào bụi cây cặp lộ rồi T đi bộ về nhà mẹ ruột thuộc ấp B, xã N, huyện C, mượn xe quay lại lấy tài sản 01 mô tơ trộm trước đó đem bán cho một người phụ nữ mua ve chai (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) tại khu vực ấp B, xã N, huyện C, được số tiền 150.000 đồng, có được tiền T tiêu xài cái nhân hết. Còn 05 gói mì tôm Hảo Hảo chua cay, 06 gói thuốc lá điếu hiệu S bạc Tín mang về nhà sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS ngày 16/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 Mô tơ điện, loại 1,5HP (mã lực) được chủ sở hữu mua mới vào năm 2021; 05 gói mì tôm ăn liền Hảo Hảo chua cay; 06 gói thuốc lá điếu nội hiệu Sài Gòn bạc với tổng số tiền 1.192.000 đồng.

Trong quá trình điều tra Lê Trung T còn khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C 05 vụ, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1:

Vào khoảng 21 giờ ngày 12/9/2023 Lê Trung T một mình đi bộ từ nhà cha ruột thuộc ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đến khu vực nhà anh Hồ Hữu P, ngụ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, để xiệt cá. Khi đi ngang qua chuồng bò của anh P thì T phát hiện có 02 con gà nên nảy sinh ý định trộm gà bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, T dùng tay bắt 02 con gà rồi bỏ vào trong áo đi về. Đến sáng T mượn xe mẹ ruột mang 02 con gà đi bán tại khu vực đầu đường vành đai (Võ Văn K2) thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, cho một người đàn ông (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) được số tiền 200.000 đồng, có được tiền T tiêu xài cái nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-ĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh, kết luận: 01 con gà trống, loại gà nồi, cựa dài 03 cm, có lông màu trắng đen, có trọng lượng khoảng 03 kg, được chủ sở hữu mua với giá 500.000 đồng, nuôi khoảng 02 năm tuổi, hàng ngày cho ăn lúa; 01 con gà mái đẻ, loại gà nồi, có lông màu xám, có trọng lượng khoảng 1,5 kg được chủ sở hữu nuôi khoảng 01 năm, hằng ngày cho ăn lúa với số tiền 420.000 đồng.

Vụ thứ 2:

Vào khoảng 19 giờ ngày 17/9/2023, Lê Trung T cùng người bạn tên Đ (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) uống cà phê tại khu vực tượng đài thuộc phường H, thành phố T, lúc này Đ rủ T tìm bắt trộm gà về nhậu thì T liền đồng ý. Tín biết nhà chị Lê Kim C quản lý lỏng lẻo trong việc quản lý tài sản (gà) nên nảy sinh ý định bắt trộm gà nhậu và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T kêu Đ chở đến nhà chị C thì phát hiện nhà chị C không có người trong giữ nên Đ cắt lưới chuồng gà vào bên trong bắt gà còn T đi tìm bao đựng gà. Sau khi bắt được 27 con gà bỏ vào bao, Đ chở T rời khỏi hiện trường đi tìm nơi cất giấu. Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô chở T mang toàn bộ số gà đi đến chợ B, thành phố T, bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) được số tiền 1.380.000 đồng. Có được tiền cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh kết luận: 04 con gà trống, loại gà nồi, gà tơ mới nhú cựa, mỗi con có trọng lượng khoảng 1,6 kg đến 1,7 kg, hằng ngày được cho ăn lúa; 06 con gà mái, loại gà nồi, gà tơ, mỗi con có trọng lượng 1,6kg hằng ngày được cho ăn lúa; 17 con gà mái đẻ, loại gà tre, mỗi con có trọng lượng 1,2 kg đến 1,3 kg, hằng ngày được cho ăn lúa với số tiền 2.872.250 đồng.

Vụ thứ 3:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/9/2023 Lê Trung T một mình đi bộ từ nhà mẹ ruột thuộc ấp B, xã N, huyện C về nhà cha ruột ở ấp Ô, xã L, huyện C, để đi câu cá, khi đi ngang qua chòi của anh Nguyễn Văn K, ngụ ấp Ô, xã L, huyện C thì T phát hiện 01 mô tơ điện không có người trông giữ nên T nảy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, T sử dụng cây dao gần đó cắt đứt hết ống nhựa rồi lấy thanh sắt nại để lấy mô tơ đem ra ngoài. Khi lấy được mô tơ T đem ra lộ nhựa cất giấu rồi đi bộ về nhà mẹ ruột mượn xe quay lại lấy tài sản 01 mô tơ mang đến chợ B1 bán cho anh Nguyễn Thanh K1, sinh năm 1982, ngụ ấp C, xã P, huyện C, được số tiền 400.000 đồng, có được tiền T tiêu xài cái nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-ĐGTS ngày 16/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 Mô tơ điện nhãn hiệu TECO, loại 2HP (mã lực), màu xám được chủ sở hữu mua cũ vào tháng 10 năm 2022 với số tiền 1.600.000 đồng.

Vụ thứ 4:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút trong tháng 7 năm 2023, Lê Trung T một mình đi bộ từ nhà cha ruột thuộc ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đi xiệt cá. Khi đi ngang qua nhà chị Lê Kim C thì phát hiện cửa nhà mở, không có người trông giữ nên T đi vào trong nhà nhìn thấy 01 cái quần dài được treo trên cửa nhà sau, T kiểm tra bên trong phát hiện số tiền 1.200.000 đồng nên T lấy trộm số tiền rồi ra khỏi nhà chị C. Có được tiền Tín tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 5:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút trong tháng 7 năm 2023, Lê Trung T cùng người bạn tên Đ (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) uống cà phê tại khu vực tượng đài thuộc phường H, thành phố T. Tại đây, Đ rủ T đi bắt trộm gà để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì T đồng ý, T biết chị Lê Kim C có nuôi nhiều con gà có giá trị nên T nảy sinh ý định bắt trộm những con gà của chị C. Lúc này, Đ chở T bằng xe mô tô hai bánh loại Wave đến nhà C thì phát hiện nhà chị C không có người trong giữ nên T đi tìm bao thức ăn gần nhà của chị C rồi quay lại cầm bao cho Đ vào khu vực nhà chị C bắt trộm 15 con gà bỏ vào bao. Đến khoảng 05 giờ sáng hôm sau Đ chở T mang số gà trộm được đến đầu đường vành đai (Võ Văn K2) thuộc phường H, thành phố T, bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) được số tiền 730.000 đồng. Có được tiền 02 hai chia nhau tiêu xài cái nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-ĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh kết luận: 08 con gà mái, loại gà nồi đang đẻ trứng, mỗi con có trọng lượng 2,4 kg, hằng ngày được cho ăn lúa; 07 con gà trống, loại gà nồi, mỗi con có trọng lượng từ 2,7kg đến 2,8 kg, hằng ngày được cho ăn lúa với số tiền 3.556.750 đồng.

Tại Cáo trạng số 49/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Lê Trung T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, ra Quyết định trả lại tài sản 01 mô tơ nhãn hiệu Teco, loại 2HP (mã lực), màu xám, đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Văn K. Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra đang còn tạm giữ 01 xe mô tô hai bánh biển số 84AA-009.79, nhân hiệu: SYM, số loại ANGELA, màu sơn: Đen Vàng, số máy: MSE1BD003626, số khung: 05CDED003626; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đen, loại bàn phím cũ, đã qua sử dụng.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Trung T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận lời khai, trình bày tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, không bị cơ quan điều tra ép cung, dùng nhục hình đối với bị cáo.

Bị hại chị Lê Kim C yêu cầu bị cáo Lê Trung T phải bồi thường thiệt hại về tài sản do bị cáo lấy trộm với tổng số tiền 8.821.000 đồng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Trung T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Trung T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời gian tính từ ngày 22/02/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Trung T bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Lê Kim C mà bị cáo đã trộm được định giá với tổng số tiền là 8.821.000 đồng. Đối với anh Hồ Hữu P không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hai bánh biển số 84AA-009.79, nhản hiệu: SYM, số loại ANGELA, màu sơn: Đen Vàng, số máy: MSE1BD003626, số khung: 05CDED003626 của chị Nguyễn Thị Thu L, bị cáo T dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Thu L không biết nên đề nghị hoàn trả cho chị Thu L.

Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đen, loại bàn phím cũ, đã qua sử dụng bị cáo không dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội đề nghị giao trả cho bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Trung T thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không phát biểu tranh luận.

Bị hại Lê Kim C yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền do thiệt hại về tài sản là 8.821.000 đồng; về hình phạt tù đề nghị Hội đồng xét xử phạt theo quy định.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay các bị hại vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do, nhưng có lời khai rõ ràng; việc vắng mặt của các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Trung T thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản là 06 lần lấy trộm tài sản như liệt kê nêu trên của chị Lê Kim C, anh Hồ Hữu P và ông Nguyễn Văn K với tổng số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại là 10.841.000 đồng, trong đó có 02 lần trộm mà mỗi lần có số tiền là 2.872.250 đồng và 3.556.750 đồng của chị C; thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Lê Trung T thể hiện tính trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp. Tài sản bị cáo T lấy trộm của các bị hại có tổng giá trị là 30.533.000 đồng. Hậu quả tác hại đã xảy ra, động cơ mục đích vì vụ lợi, hành vi đó đã cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” được quy định trong Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố; kết luận và đề nghị của Viện kiểm sát tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan, sai đối với bị cáo. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo Lê Trung T thể hiện tính trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo thực hiện hành vi trộm tài sản liên tục, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo tâm lý hoang mang lo sợ cho mọi người trong việc quản lý tài sản, không an tâm trong sinh hoạt, lao động sản xuất ở địa phương.

Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân không tốt, bị cáo có 01 tiền án; ngày 26/02/2021, bị cáo Lê Trung T bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, tuyên phạt 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản, đến nay bị cáo T chưa được xoá án tích. Bản thân bị cáo được giáo dục, cải tạo nhưng không thấy được hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của mình để khắc phục, sửa chữa trở thành công dân tốt. Lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo về tài sản của chủ sở hữu, bị cáo lén lúc lấy trộm tài sản với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cho cá nhân. Hành vi đó thể hiện bị cáo là thành phần khó giáo dục, không biết sửa đổi bản thân để trở thành công dân tốt. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức biết được lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo Lê Trung T ra khỏi xã hội và cho bị cáo một mức án nghiêm khắc, có thời hạn theo như quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân không tốt. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Trung T thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi; đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và áp dụng cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị cáo T lấy trộm 01 mô tơ nhãn hiệu Teco, loại 2HP (mã lực), màu xám, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn K đã được thu hồi và giao trả cho anh Nguyễn Văn K nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với tài sản bị cáo lấy trộm của chị Lê Kim C và anh Hồ Hữu P không thu hồi được, tại phiên tòa hôm nay chị Lê Kim C yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại giá trị tài sản theo giá mà Hội đồng định giá đã định nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị cáo Lê Trung T phải bồi thường cho chị Lê Kim C tổng số tiền thiệt hại là 8.821.000 đồng. Đối với anh Hồ Hữu P có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hai bánh biển số 84AA-009.79, nhân hiệu: SYM, số loại ANGELA, màu sơn: Đen Vàng, số máy: MSE1BD003626, số khung: 05CDED003626 của chị Nguyễn Thị Thu L, bị cáo T dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chị Thu L không biết nên hoàn trả cho chị Thu L.

Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đen, loại bàn phím cũ, đã qua sử dụng bị cáo không dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên giao trả cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Trung T 02 (Hai) năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 22/02/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Lê Trung T phải bồi thường cho chị Lê Kim C tổng số tiền thiệt hại là 8.821.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án sau khi án có hiệu lực pháp luật của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Về xử lý vật chúng:

Tuyên trả cho chị Nguyễn Thị Thu L xe mô tô hai bánh biển số 84AA-009.79, nhân hiệu: SYM, số loại ANGELA, màu sơn: Đen Vàng, số máy: MSE1BD003626, số khung: 05CDED003626.

Trả cho bị cáo Lê Trung T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đen, loại bàn phím cũ, đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 441.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện;
  • - CC.THADS huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo, bị hại, NCLQ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger