TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/DS-ST
Ngày 19-4-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Phước – Nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phường 10, thành phố Sóc Trăng.
- Bà Nguyễn Bạch Nhạn.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N2; Địa chỉ: Số A T, Phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh B - Chức vụ: Trưởng phòng Khách hàng - Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 - Chi nhánh S; Địa chỉ: Số C, đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng – là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, theo văn bản ủy quyền ngày 19/4/2024. (Có mặt)
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc C; sinh năm: 1978; Địa chỉ: số C đường C, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: số D đường C Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Út H; sinh năm: 1982; Địa chỉ: số C đường C, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: số D đường C Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Vùng V, sinh năm: 2002 (Vắng mặt)
- Em Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 2006 (Vắng mặt)
- Em Nguyễn Hồng Â, sinh năm: 2008 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: số D đường C Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người giám hộ cho em Nguyễn Quang Đ và Nguyễn Hồng  là bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H là cha và mẹ ruột.
- Ông Nguyễn Văn L. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Hồng P. (Có mặt)
- Ông Đoàn Văn N (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: số D đường C Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lập ngày 17/10/2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Thanh B trình bày:
Ngày 25/11/2022, bà C và H có vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 chi nhánh S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT ngày 25/11/2022, để vay số tiền 990.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn cho vay là: 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; Lãi suất trong hạn: 11,00%/năm và các cam kết khác được quy định tại Điều 3 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng; Lãi suất quá hạn là: 150% lãi suất cho vay trong hạn và các cam kết khác được quy định tại Điều 3 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng; Ngân hàng đã giải ngân cho ông H, bà C nhận đủ số tiền 990.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản theo giấy nhận nợ số 01 ngày 30/11/2022. Phương thức trả nợ gốc: Theo kế hoạch trả nợ ngày 25/11/2022; Thời gian trả lãi: định kỳ vào ngày 26 hàng tháng; Các khoản phí và nghĩa vụ tài chính khác: được quy định tại điều 3 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng. Từ ngày 30/11/2023, mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với khoản vay của ông H, bà C là 9,5%/tháng;
Để đảm bảo khoản vay của Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022, thì bà C và ông H có thế chấp cho Ngân hàng các tài sản cụ thể như sau: Quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m², tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H. Việc thế chấp nêu trên được hai bên ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022, được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Văn N1, số công chứng 9305, quyển số: 01/2022 TP/CC- SCC/HĐGD, ngày 25/11/2022 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H, bà C đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 từ kỳ số 01 đến kỳ 08 (tháng 8/2023) với tổng số tiền đã trả là 152.639.490 đồng (trong đó, tiền vốn là 74.250.000 đồng; lãi là 78.389.490 đồng. Từ kỳ tháng 09/2023, ông H, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo kế hoạch trả nợ ngày 25/11/2022, với tổng số tiền chậm thanh toán tính đến ngày 17/10/2023 là 22.064.432 đồng nên Ngân hàng khởi kiện ông H, bà C, để yêu cầu ông H, bà C thanh toán toàn bộ số tiền vốn và lãi vay còn nợ. Như vậy, tính đến ngày 17/10/2023, ông H, bà C còn nợ lại Ngân hàng tổng cộng tiền vốn và lãi vay là 929.564.432 đồng (trong đó, nợ gốc: 915.750.000 đồng; lãi trong hạn: 13.795.785 đồng; lãi quá hạn: 18.647 đồng).
Tại thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp trên đất đã có căn nhà trệt (căn nhà số D đường C, Khóm A, Phường C, thành phố S) và các công trình xây dựng như sau: Nhà trước diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole); Mái che phía trước diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole). Khi đó, ông H và bà C cho rằng toàn bộ tài sản gắn liền trên đất nói trên của vợ chồng ông bà và đồng ý thế chấp cho Ngân hàng.
Sau khi Ngân hàng khởi kiện, ngày 20/02/2024, ông H, bà C đã trả cho Ngân hàng được số tiền 35.750.000 đồng, số tiền này ngân hàng thu vào tiền vốn là 35.750.000 đồng. Tính đến hết ngày 19/4/2024, ông H, bà C còn nợ Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 938.524.799 đồng (trong đó, dư nợ gốc là 880.000.000 đồng; lãi trong hạn: 57.971.257 đồng, lãi quá hạn: 553.542 đồng).
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 toàn bộ số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 19/4/2024, là 938.524.799 đồng (trong đó, dư nợ gốc là 880.000.000 đồng; lãi trong hạn: 57.971.257 đồng, lãi quá hạn: 553.542 đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H liên đới thanh toán toàn bộ các khoản lãi quá hạn, phí phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của các Hợp đồng cho vay nói trên, cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng;
- Trường hợp bà C và ông H không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 thì yêu cầu Tòa án tuyên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022 để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m², tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất chưa được công nhận quyền sở hữu gồm: nhà trước diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole; Mái che phía trước diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole.
Tại biên bản hòa giải ngày 04/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Út H và bà Nguyễn Thị Ngọc C trình bày:
Ông H và bà C là vợ chồng. Vào ngày 25/11/2022, bà C và H có vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 chi nhánh S, theo Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT ngày 25/11/2022, số tiền vay 990.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn cho vay là: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; Lãi suất trong hạn: 11,00%/năm và các cam kết khác được quy định tại Điều 3 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng; Lãi suất quá hạn là: 150% lãi suất cho vay trong hạn và các cam kết khác được quy định tại Điều 3 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng; Phương thức trả nợ gốc: Theo kế hoạch trả nợ ngày 25/11/2022; Thời gian trả lãi: định kỳ vào ngày 26 hàng tháng; Các khoản phí và nghĩa vụ tài chính khác: được quy định tại điều 3 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng.
Để đảm bảo khoản vay của Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022, thì bà C và ông H có thế chấp cho Ngân hàng các tài sản cụ thể như sau: Quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m², tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H. Việc thế chấp nêu trên được hai bên ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022, được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Văn N1, số công chứng 9305, quyển số: 01/2022 TP/CC- SCC/HĐGD, ngày 25/11/2022, và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Tại thời điểm thế chấp, trên đất đã có căn nhà trệt (căn nhà số D đường C, Khóm A, Phường C, thành phố S) và các công trình xây dựng như sau: Nhà trước: diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau: diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole; Mái che phía trước: diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole. Theo ông H và bà C thì toàn bộ tài sản gắn liền trên thửa đất này là của vợ chồng ông H, bà C và ông bà đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản gắn liền trên đất cho Ngân hàng.
Trong quá trình vay vốn kể từ ngày 25/11/2022 đến ngày khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H trả tiền vốn vay được số tiền là 74.250.000 đồng, số tiền còn lại tạm tính đến ngày 17/10/2023 là: 929.564.432 đồng (trong đó, nợ gốc: 915.750.000 đồng; Lãi trong hạn: 13.795.785 đồng; Lãi quá hạn: 18.647 đồng). Sau khi ngân hàng khởi kiện thì ông H và bà C có thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 36.000.000 đồng.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2, bà C và ông H có ý kiến như sau:
- Vợ chồng bà C và ông H thừa nhận còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tổng số tiền vốn và lãi còn nợ đến ngày 04/3/2024, là 927.886.199 đồng (trong đó, dư nợ gốc là 880.000.000 đồng; lãi trong hạn: 47.435.367 đồng, lãi quá hạn: 450.832 đồng).
- Tính đến nay, vợ chồng bà C và ông H còn nợ Ngân hàng 05 kỳ quá hạn chưa thanh toán nên ông H, bà C yêu cầu Ngân hàng cho ông bà thời gian 02 tháng ông bà sẽ thanh toán hết tiền vốn và lãi vay của những kỳ quá hạn. Sau đó, vợ chồng bà C và ông H yêu cầu Ngân hàng rút đơn để ông bà tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết.
- Trường hợp bà C và ông H không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 thì ông bà đồng ý để Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022 để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m², tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất chưa được công nhận quyền sở hữu gồm: nhà trước diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole; Mái che phía trước diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole.
Hiện nay, nhà và đất nêu trên do vợ chồng ông H, bà C, 03 người con của ông H, bà C tên Nguyễn Vùng V, sinh năm: 2002; Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 2006; Nguyễn Hồng Â, sinh năm: 2008; ông Nguyễn Văn L (cha ruột ông H); bà Nguyễn Hồng P và ông Đoàn Văn N đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Theo vợ chồng ông H, bà C thì khi thế chấp cho ngân hàng V1 đã thông qua ý kiến của gia đình và được gia đình đồng ý.
* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Vùng V, sinh năm: 2002; em Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 2006; em Nguyễn Hồng Á, sinh năm: 2008; ông Nguyễn Văn L; bà Nguyễn Hồng P; ông Đoàn Văn N: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh V, em Đ, em Á, ông L, bà P, ông N không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70, 71 và 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà C và ông H; cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền vốn và lãi vay còn nợ là 938.524.799 đồng, theo Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C, ông Nguyễn Út H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Vùng V, em Nguyễn Quang Đ, em Nguyễn Hồng Â; ông Nguyễn Văn L; bà Nguyễn Hồng P; ông Đoàn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông H, bà C trả số tiền gốc và lãi là 938.524.799 đồng, thấy rằng:
[3.1] Tại hồ sơ nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất, Ngân hàng đã cho ông H, bà C vay số tiền 990.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn cho vay là: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; Lãi suất trong hạn: 11,00%/năm và các cam kết khác được quy định tại Điều 3 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng; lãi suất quá hạn là: 150% lãi suất cho vay trong hạn và các cam kết khác được quy định tại Điều 3 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng; Phương thức trả nợ gốc: Theo kế hoạch trả nợ ngày 25/11/2022; Thời gian trả lãi: định kỳ vào ngày 26 hàng tháng; theo Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022 và ngân hàng đã giải ngân cho ông H, bà C nhận đủ số tiền 990.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản, theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 30/01/2022. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tình tiết không phải chứng minh.
[3.2] Về tính hợp pháp của Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT ngày 25/11/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 - Chi nhánh S giao kết hợp đồng với ông H, bà C thông qua người đại diện hợp pháp của Ngân hàng, Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
[3.3]. Ông H, bà C đã nhận đủ số tiền vốn vay là 990.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022 từ Ngân hàng Thương mại cổ phần N2. Tuy nhiên, ông H, bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kế hoạch trả nợ ngày 25/11/2022 và quy định tại Điều 6 Hợp đồng cho vay mà hai bên đã ký kết, cụ thể ông bà chỉ thanh toán cho Ngân hàng từ kỳ số 01 đến kỳ 08 (tháng 8/2023) với tổng số tiền đã trả là 152.639.490 đồng (trong đó, tiền vốn là 74.250.000 đồng; lãi là 78.389.490 đồng. Từ kỳ tháng 09/2023 đến nay (ngày 19/4/2024) ông H, bà C chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn vay là 35.750.000 đồng và chưa trả tiền lãi. Do đó, ngân hàng đã chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo quy định tại Điều 10.2 Hợp đồng cho vay và yêu cầu ông H, bà C thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền vốn vay còn nợ tính đến ngày 19/4/2024 là 880.000.000 đồng là có căn cứ, được Tòa án chấp nhận.
[3.4] Xét yêu cầu trả lãi của nguyên đơn: Theo Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022 và giấy nhận nợ số 01 ngày 30/11/2022 thì các bên thỏa thuận lãi suất vay trong hạn: 11.0 %/năm và cố định trong 18 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng; Từ ngày 30/11/2023 cho đến nay, Ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất cho vay đối với khoản vay của ông H, bà C giảm xuống còn 9,5% và lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn. Do ông H, bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi theo thoả thuận của hợp đồng nên Ngân hàng đã chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn và chuyển những kỳ quá hạn thanh toán của ông H, bà C sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là phù hợp quy định tại Khoản 3.2 Điều 3; Khoản 6.2.2 Điều 6 Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Nay Ngân hàng yêu cầu bà C và ông H thanh toán số tiền lãi còn nợ tính đến hết ngày 19/4/2024 là 58.524.799 đồng (gồm: lãi trong hạn là 57.971.257 đồng; lãi quá hạn là 553.542 đồng) và số tiền lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền vốn và lãi mà bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đến hết ngày 19/4/2024 là 938.524.799 đồng.
[3.5]. Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 19/4/2024 cho đến khi bà C và ông H trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, thấy rằng:
[4.1]. Hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn với bị đơn được lập thành văn bản, có công chứng hợp đồng, các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết nên về hình thức và nội dung của hợp đồng là phù hợp với quy định tại quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai 2013. Ngoài ra, việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất đã được các bên thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.
[4.2] Theo Điều 1 và Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022 thì ông H dùng quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m², tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H để bảo đảm cho tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ mà ông H, bà C phải trả cho Ngân hàng K nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại, các loại phí, lệ phí và các khoản bồi hoàn phát sinh,... nên có căn cứ để xác định Hợp đồng thế chấp nêu trên là để bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của ông H và bà C.
[4.3]. Đối với tài sản gắn liền trên đất: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 và ông H, bà C thống nhất toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại số D đường C Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng gồm (Nhà trước: diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau: diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole; Mái che phía trước: diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole), chưa được công nhận quyền sở hữu thuộc quyền sở hữu của ông H, bà C và ông bà đồng ý để Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 phát mãi thu hồi nợ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tại mục ii Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022: “Tài sản bảo đảm: tất cả các tài sản gắn liền với thửa đất/và hoặc quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của bên thế chấp” và khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật”.
Từ những phân tích trên, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 yêu cầu trường hợp ông H, bà C không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022 để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m², tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất chưa được công nhận quyền sở hữu gồm: nhà trước diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole; Mái che phía trước diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole, là có cơ sở chấp nhận.
[5] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ vào Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H phải chịu số tiền là 950.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đã tạm ứng trước nên sau khi ông H, bà C giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 40.155.744 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 158, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- Điều 317, Điều 318, Điều 319, Khoản 1 Điều 325, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Khoản 3 Điều 167, Điều 168 của Luật Đất đai 2013;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2:
- - Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 tổng số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 19/4/2024 là 938.524.799 đồng (trong đó: nợ gốc 880.000.000 đồng; lãi trong hạn 57.971.257 đồng; lãi quá hạn: 553.542 đồng).
- - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay số: 1007/22/HĐTL/ST/TN/NT, ngày 25/11/2022 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
- - Khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0799/22/HĐTC/ST/TN ngày 25/11/2022 để thu hồi nợ, gồm: quyền sử dụng đất diện tích 118,0 m² (mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị), tại thửa đất số 93; tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DG 481934; Số vào sổ cấp GCN: CS04100 do UBND thành phố S cấp ngày 18/10/2022 cho ông Nguyễn Út H và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất, chưa được công nhận quyền sở hữu gồm: Nhà trước: diện tích 68,0 m² (kết cấu nền gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), trần la phông nhựa, khung bê tông cốt thép, mái lợp tole; Nhà sau: diện tích 36,5 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách nhờ, mái lợp tole; Mái che phía trước: diện tích 20,25 m² (kết cấu nền gạch men, khung cột sắt, vách tường gạch cao 0,9m + lưới B40, 01 bên vách nhờ, mái lợp tole.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 40.155.744 đồng.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.943.466 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0011579 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H phải chịu số tiền là 950.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 đã tạm ứng trước nên sau khi bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn Út H giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N2.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Thị Kim Hằng |
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
