|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-9-2024
Về việc: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Thịnh
- Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 66/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1992
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Nguyễn Minh P, sinh năm: 1994
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh P tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 77, ngày 12/9/2016. Quá trình chung sống, bà H và ông P thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do ông P nhậu nhẹt, đánh đạp và không quan tâm đến gia đình, dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm và không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay. Nay thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh P.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh P có một con chung là Nguyễn Hồng Đan D, sinh ngày 01/01/2017. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Bà không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.
* Phát biểu tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh kết luận:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đây là vụ án hôn nhân gia đình về “Ly hôn” mà bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh P tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 77, ngày 12/9/2016. Do đó, hôn nhân giữa bà H và ông P là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc do có nhiều mâu thuẫn, bà H và ông P không còn chung sống với nhau nữa. Nay không thể hàn gắn tình cảm với bị đơn nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn. Bị đơn triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt. Như vậy, hôn nhân giữa bà H và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh P có một con chung là Nguyễn Hồng Đan D, sinh ngày 01/01/2017. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Bà không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần và phù hợp với nguyện vọng của con. Hiện nay cháu D còn nhỏ, đang trực tiếp sống cùng với bà H. Vì vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- - Các Điều 28, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Minh P.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hồng Đan D, sinh ngày 01/01/2017. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên không xem xét.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004805 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Hiên |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
