TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 49/2024/HSST Ngày: 17/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. Ông Cao Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Minh Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19/6/2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký thường trú: 621 Nguyễn Văn K, Tổ A, ấp Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: không cư trú nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: nhân viên bán hàng. Trình độ học vấn: 12/12. Cha: Võ Thế V, sinh năm 1974. Mẹ: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1977. Anh chị em: bị cáo có 02 người em, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023 tại Trại giam C1 (T30) – Công an T2, Hồ Chí M đến nay (có mặt)
Bị hại: Công ty TNHH M2 (vắng mặt)
Địa chỉ: A K, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị Kim L, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: C hẻm E P, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh - Ông Bành Định P, sinh năm 1978 (có mặt)
Nơi cư trú: E N, Phường B, Quận C, Tp . - Ông Trần Chí C, sinh năm 1981 (có mặt)
Nơi cư trú: B L, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Võ Minh Q là nhân viên trợ lý cho quản lý Cửa hàng điện thoại di động Minh Tuấn M1 (Công ty TNHH M2), số A K, Phường C, Quận D. Vào khoảng 08 giờ ngày 23/11/2023, Q đến cửa hàng. Tại cửa hàng có 02 két sắt, 01 cái đặt ở gầm cầu thang không có camera giám sát và 01 cái đặt bên phải bàn làm việc của kế toán có camera giám sát. Trong lúc mở két sắt ở bên dưới gầm cầu thang để lấy điện thoại ra thì Q thấy bên trong két có 07 điện thoại di động hiệu Iphone, gồm nhiều loại của khách đặt mua trước đó nhưng chưa đến lấy.
Do cần tiền tiêu dùng cá nhân nên Q nảy sinh ý định lén lút chiếm đoạt 02 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, 256GB, màu trắng trong số 07 cái điện thoại di động của khách đặt mua bằng cách Q chỉ đem ra 05 điện thoại trong két sắt khách đặt mua ra bàn kế toán Dương Thanh T, sau đó lấy 02 điện thoại di động có đặc điểm giống loại khách đã đặt mua ở két sắt để điện thoại khách chưa mua và dán thông tin khách hàng đã mua vào 02 điện thoại này (mục đích để cho chị T kiểm tra số lượng không phát hiện thiếu 02 điện thoại), sau đó đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày Q đến chỗ cất giấu 02 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, 256GB, màu trắng mà khách đặt mua của Cửa hàng M3 bỏ vào ba lô mang ra khỏi cửa hàng.
Đến khoảng 20 giờ ngày 23/11/2023 thông qua mạng xã hội Võ Minh Q thỏa thuận bán 02 điện thoại chiếm đoạt được cho Phan Kế Tài A với giá 54.000.000 đồng. Số tiền bán 02 điện thoại Q sử dụng tiêu dùng cá nhân hết 29.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng gửi trong tài khoản tên Bùi Thị Kim L (mẹ nuôi Q), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã thu giữ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS, ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận D, Kết luận: 02 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, 256GB, màu trắng có tổng giá trị là 67.180.000 đồng (bút lục 62).
Đối với những người mua bán lại 02 điện thoại: Phan Kế Tài A, Trần Thiên T1, Bành Đình P1 và Trần Chí C tất cả đều không biết 02 điện thoại nêu trên là tài sản do phạm tội mà có. Đối với anh P1 và anh C mua điện thoại để sử dụng, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 mời làm việc, thông báo biết 02 điện thoại trên là tài sản do trộm cắp mà có, đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Bùi Thị Kim L (mẹ nuôi Q) đứng tên chủ tài khoản 5999919062003, ngân hàng Q2 (MB), bản thân L nhờ Q mở dùm, không sử dụng, tài khoản do Q sử dụng, không biết Q cất giữ số tiền phạm tội mà có trong tài khoản nên không có cơ sở để xử lý.
Vật chứng:
(1). 02 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, dung lượng 256GB, màu trắng (có số Seri: MY71D4JYPG, số Imei: 350069703420720 và số Seri: CQGQR39QD0, số I: 350069703318080) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trả cho Công ty TNHH M2.
(2). 01 đĩa DVD chứa dữ liệu nội dung ghi lời khai, ghi âm ghi hình bị can Võ Minh Q (lưu kèm theo hồ sơ vụ án, bút lục 208).
(3). 01 đĩa DVD bên trong chứa 03 đoạn video được trích xuất bên trong cửa hàng M3 số A K, Phường C, Quận D ghi nhận sự việc (lưu kèm theo hồ sơ vụ án, bút lục 210).
(4). 01 (Một) áo thun ngắn tay màu đen có cổ màu đỏ, phía sau áo in chữ MINHTUANMOBILE.COM ĐAM MÊ PHỤC VỤ, Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
(5). 01 (Một) quần tây dài màu đen, đã qua sử dụng, Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
(6). 01 (Một) ba lô màu đen, mặt phía trước có in chữ “Y2010”, Q sử dụng đựng điện thoại trộm;
(7). 01 (Một) điện thoại di động, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone Xr màu đỏ, số S: C8PXLMVQKXK9, bên trong có sim số 0704539812 và 0359527019 (là tài sản cá nhân của Q).
(8). Số tiền 25.000.000 đồng còn lại trong tài khoản Ngân hàng Q2 chủ tài khoản Bùi Thị Kim L (do bị cáo Võ Minh Q bán điện thoại trộm được cắp mà có). Ngân hàng Q2 đã chuyển vào tài khoản Công an Q1.
Về trách nhiệm dân sự,
- Anh Nguyễn Văn D là người được Công Ty TNHH M2 uỷ quyền làm việc với Cơ quan điều tra, đã nhận lại tài sản nên nên không có yêu cầu về dân sự.
- Anh Phan Kế Tài A và anh Trần Thiên T1 do không bị thiệt hại về tài sản, không có yêu cầu gì.
- Anh Bành Đình P1 yêu cầu bồi thường số tiền 29.800.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại trên.
- Anh Trần Chí C yêu cầu bồi thường số tiền 29.900.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại trên.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Võ Minh Q đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản cáo trạng số 52/CT-VKSQ4 ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Minh Q từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Văn D là người được Công Ty TNHH M2 uỷ quyền làm việc với Cơ quan điều tra, đã nhận lại tài sản nên nên không có yêu cầu về dân sự.
- Anh Phan Kế Tài A và anh Trần Thiên T1 do không bị thiệt hại về tài sản, không có yêu cầu gì.
- Anh Bành Đình P1 yêu cầu bồi thường số tiền 29.800.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại trên. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh P1 số tiền trên.
- Anh Trần Chí C yêu cầu bồi thường số tiền 29.900.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại trên. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh C số tiền trên.
Bị cáo Võ Minh Q thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Q1, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận D, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/11/2023, Võ Minh Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, 256GB, màu trắng của Cửa hàng điện thoại di động Minh Tuấn M1 (Công ty TNHH M2), tại địa chỉ Số A K, Phường C, Quận D; tổng trị giá là 67.180.000 đồng, nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự, trị an. Bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham và để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Võ Minh Q phạm tội lần đầu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Xử lý vật chứng vụ án:
02 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, dung lượng 256GB, màu trắng (có số Seri: MY71D4JYPG, số Imei: 350069703420720 và số Seri: CQGQR39QD0, số I: 350069703318080) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trả cho Công ty TNHH M2.
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án:
- 01 đĩa DVD chứa dữ liệu nội dung ghi lời khai, ghi âm ghi hình bị can Võ Minh Q (lưu kèm theo hồ sơ vụ án, bút lục 208).
- 01 đĩa DVD bên trong chứa 03 đoạn video được trích xuất bên trong cửa hàng M3 số A K, Phường C, Quận D ghi nhận sự việc (lưu kèm theo hồ sơ vụ án, bút lục 210).
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) áo thun ngắn tay màu đen có cổ màu đỏ, phía sau áo in chữ MINHTUANMOBILE.COM ĐAM MÊ PHỤC VỤ, Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
- 01 (Một) quần tây dài màu đen, đã qua sử dụng, Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
- 01 (Một) ba lô màu đen, mặt phía trước có in chữ “Y2010”, Q sử dụng đựng điện thoại trộm;
Trả lại cho bị cáo:
01 (Một) điện thoại di động, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone Xr màu đỏ, số S: C8PXLMVQKXK9, bên trong có sim số 0704539812 và 0359527019 (là tài sản cá nhân của bị cáo Q).
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa hôm nay, bị hại vắng mặt nên không xem xét. Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Bành Đình P1 và ông Trần Chí C:
- Buộc bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Bành Đình P1 số tiền 29.800.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại.
- Buộc bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Chí C số tiền 29.900.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại.
Cấn trừ số tiền 25.000.000 đồng do bị cáo Võ Minh Q bán điện thoại trộm được cắp mà có đã được Ngân hàng Q2 chuyển vào tài khoản Công an Q1 cho ông Bành Đình P1 và ông Trần Chí C. Ông P1 và ông C mỗi ông được nhận số tiền 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Bành Đình P1 số tiền còn lại là 17.300.000 (Mười bảy triệu ba trăm nghìn) đồng. Bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Chí C số tiền còn lại là 17.400.000 (Mười bảy triệu bốn trăm nghìn) đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Minh Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023.
2. Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án:
- 01 đĩa DVD chứa dữ liệu nội dung ghi lời khai, ghi âm ghi hình bị can Võ Minh Q (lưu kèm theo hồ sơ vụ án, bút lục 208).
- 01 đĩa DVD bên trong chứa 03 đoạn video được trích xuất bên trong cửa hàng M3 số A K, Phường C, Quận D ghi nhận sự việc (lưu kèm theo hồ sơ vụ án, bút lục 210).
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) áo thun ngắn tay màu đen có cổ màu đỏ, phía sau áo in chữ MINHTUANMOBILE.COM ĐAM MÊ PHỤC VỤ, Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
- 01 (Một) quần tây dài màu đen, đã qua sử dụng, Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
- 01 (Một) ba lô màu đen, mặt phía trước có in chữ “Y2010”, Q sử dụng đựng điện thoại trộm;
- Trả lại cho bị cáo:
01 (Một) điện thoại di động, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone Xr màu đỏ, số S: C8PXLMVQKXK9, bên trong có sim số 0704539812 và 0359527019 (là tài sản cá nhân của Q).
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 66 ngày 07/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Bành Đình P1 và ông Trần Chí C:
- Buộc bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Bành Đình P1 số tiền 29.800.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại.
- Buộc bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Chí C số tiền 29.900.000 đồng đã bỏ ra trả tiền khi mua điện thoại.
Cấn trừ số tiền 25.000.000 đồng do bị cáo Võ Minh Q bán điện thoại trộm được cắp mà có đã được Ngân hàng Q2 chuyển vào tài khoản Công an Q1 cho ông Bành Đình P1 và ông Trần Chí C. Ông P1 và ông C mỗi ông được nhận số tiền 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Bành Đình P1 số tiền còn lại là 17.300.000 (Mười bảy triệu ba trăm nghìn) đồng. Bị cáo Võ Minh Q có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Chí C số tiền còn lại là 17.400.000 (Mười bảy triệu bốn trăm nghìn) đồng.
(Theo Lệnh thanh toán đến ngày 04/6/2024 của Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh D1 - TP .).
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Võ Minh Q phải nộp: án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 2.985.000 (Hai triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Tấn Phát |
Bản án số 49/2024/HSST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 49/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
