|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 49/2024/DS-ST
Ngày 17 - 5 - 2024
Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà:
Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1952 (có mặt)
Trú tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1966 (có mặt)
Trú tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn H1 (H1 lớn), sinh năm 1956 (có yêu cầu vắng mặt)
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1962 (có mặt)
- Bà Lê Kim H2, sinh năm 1964 (có mặt)
- Bà Lê Thị T (Lê Thị C), sinh năm 1970 (yêu cầu vắng mặt)
- Bà Lê Thị H3, sinh năm 1976 (yêu cầu vắng mặt)
- Bà Thị L1, sinh năm 1978 (có mặt)
- Bà Lê Thị V, sinh năm 1978 (yêu cầu vắng mặt)
- Bà Lê Thị C1, sinh năm 1982 (yêu cầu vắng mặt)
- Bà Trần Thị L2, sinh năm 1972 (có yêu cầu vắng mặt)
- Lê Thị Mộng C2, sinh năm 1996 (có yêu cầu vắng mặt)
- Lê Đan D, sinh năm 2005 (có yêu cầu vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân thị xã G
Trú tại: Khóm 5, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Ấp 22, xã Phong Thạnh A, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Ấp 2, xã Tân Phong, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Ấp 3, xã Tân Phong, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Khóm 5, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Khóm 5, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Ấp Bữu 1, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Trú tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người đại diện theo ủy quyền, ông Đỗ Thanh T1, chức vụ: Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã G (yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Lê Văn H trình bày ý kiến: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha và mẹ ông tên Lê Văn T2 và Nguyễn Thị H4, khi cha mẹ còn sống có chia đều cho các anh em mỗi người chiều ngang 4m, chiều dài 30m, phần đất ở phía sau ai có nhu cầu thì được quyền sử dụng. Khi cha ông còn sống có làm giấy uỷ quyền toàn bộ phần đất cho ông theo văn bản ngày 17/4/2014, có địa phương ký xác nhận, ông yêu cầu Lê Văn H1 giao lại phần đất ngang 4m, dài 10m, diện tích 40m².
Luật sư và ông Lê Văn H1 trình bày ý kiến: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha Lê Văn T2, mẹ Nguyễn Thị H4, khi cha mẹ còn sống chia cho các anh em mỗi người phần đất chiều ngang 4m, chiều dài 30m, do ông ở chung với cha mẹ, nên phần đất còn lại cha đã làm giấy ngày 18/5/2013 cho ông, có anh, chị, em cùng ký gồm: Lê Văn H, Lê Văn H1 (H1 lớn), Lê Thị L, Lê Kim H2, Lê Thị C (T), Lê Thị H3, Lê Thị V, Lê Thị L3, Lê Thị C1. Phần đất cha cho ông Lê Văn H, đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chiều ngang 4m, chiều dài 30m), ông H đã bán hết cho người khác, phần còn lại ngang 4m dài 10m là của cha đã cho ông, phần này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông không đồng ý giao cho ông H.
Bà Lê Thị L, bà Lê Kim H2, bà Lê Thị T, bà Lê Thị H3, bà Thị L3, bà Lê Thị V và bà Lê Thị C1 cùng trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha, mẹ Lê Văn T2 và Nguyễn Thị H4, khi cha, mẹ còn sống cho các anh em mỗi người phần đất chiều ngang 4m, chiều dài 30m, còn Lê Văn H1 ở chung với cha, mẹ nên được cho căn nhà và đất còn lại cặp bên (phần đất tranh chấp). Phần đất cha cho ông Lê Văn H, ông H đã bán hết, phần còn lại đang tranh chấp chiều ngang 4m, chiều dài 10m là của Lê Văn H1, các anh chị em đều thống nhất để cho Lê Văn H1 sử dụng.
Ý kiến của đại diện Ủy ban nhân dân thị xã G: Phần đất tranh chấp có diện tích 40m², thuộc thửa số: 279, bản đồ số: 24 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, những căn cứ pháp lý để giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn H đòi ông Lê Văn H1 trả lại diện tích đất 40m² tại thửa số: 279, tờ bản đồ số: 24, do ông Lê Văn T2 đứng tên trên sổ mục kê đất đai, phần đất tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Ông Lê Văn H được miễn án, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ông Lê Văn H chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G. Ông Lê Văn H1 (H1 lớn), bà Lê Thị T, bà Lê Thị H3, bà Lê Thị V, bà Lê Thị C1, Trần Thị L2, Lê Thị Mộng C2, Lê Đan D và đại diện Ủy ban nhân dân thị xã G có yêu cầu vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp 40m², thuộc thửa số: 279, bản đồ số: 24 do ông Lê Văn T2 đứng tên trên sổ mục kê, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo ông Lê Văn H trình bày phần đất tranh chấp 40m² là đất của cha mẹ cho ông bằng văn bản ủy quyền ngày 17/4/2014, Hội đồng xét xử nhận xét văn bản ủy quyền như sau: Thể hiện nội dung văn bản ủy quyền là giao cho ông H gìn giữ toàn bộ phần đất còn lại, tuy nhiên không nói rõ là phần đất nào, vị trí tại đâu, trong khi đó ông Lê Văn T2 có nhiều đất và được chia cho các con, văn bản cũng không thể hiện là cho ông Lê Văn H phần đất đang tranh chấp, thực tế ông Lê Văn H đã được ông Lê Văn T2 cho phần đất tiếp giáp với đất tranh chấp, ông H đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã chuyển nhượng hết cho người khác.
Tại giấy cho nền nhà không ghi ngày tháng năm do ông Lê Văn H cung cấp, thể hiện ông Lê Văn T2 cho con là Lê Văn H phần đất ngang 4m dài 30m, phần này ông H đã nhận và chuyển nhượng cho người khác, ngoài ra cũng không thể hiện ông T2 cho ông Huỳnh p đất đang tranh chấp.
Theo Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền và phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm nhận tài sản”.
Thực tế ông Lê Văn H chưa đăng ký tại cơ quan chuyên môn về đất đai, chưa nhận phần đất, chưa sử dụng phần đất này, do đó Hội đồng xét xử nhận xét văn bản lập ngày 17/4/2014 không thỏa mãn về việc tặng cho bất động sản.
Tòa án đã làm việc với ông Lê Văn H và giải thích về yêu cầu khởi kiện, ông Lê Văn H không yêu cầu chia thừa kế, ông chỉ yêu cầu ông Lê Văn H1 trả đất, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét về phạn vi khởi kiện của ông Lê Văn H là tranh chấp quyền sử dụng đất.
Ông Lê Văn H là người khởi kiện, ông H có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại Điều 6 và 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông H không đưa ra được chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn H là người cao tuổi, có đơn yêu cầu miễn án phí, nên được xem xét miễn án phí cho ông H.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.709.000 đồng ông Lê Văn H phải chịu, ông Lê Văn H đã nộp xong.
[4] Qua ý kiến phát biểu của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn H1: Những chứng cứ mà ông H đưa ra là văn bản ủy quyền ngày 17/4/2014 không thỏa mãn của việc tặng cho bất động sản, nên yêu cầu của ông H là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn H, đề nghị của Luật sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 203 của Luật đất đai;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn H đòi ông Lê Văn H1 trả lại diện tích đất 40m², tại thửa đất số: 279, tờ bản đồ số: 24 do ông Lê Văn T2 đứng tên sổ mục kê đất đai, phần đất tại: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí như sau:
Hướng Đông giáp Lê Văn H1 cạnh dài 10m
Hướng Tây giáp V cạnh dài 10m
Hướng Nam giáp Nguyễn Thanh P cạnh dài 4m
Hướng Bắc giáp Lê Văn H1 cạnh dài 4m
[2] Về án phí: Ông Lê Văn H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.709.000 đồng ông Lê Văn Huỳnh c, ông Lê Văn H đã nộp xong.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Liệt |
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh - Hòa
