|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Thành.
- Ông Đỗ Ngọc Quý.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Trúc Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đặng Bích Đ; sinh năm 1975; nơi thường trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Trần Văn T; sinh năm: 1978; nơi thường trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa; nguyên đơn bà Đặng Bích Đ trình bày: Bà và ông Trần Văn T kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kết hôn và chung sống một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm, cách sống giữa các bên có nhiều khác biệt, vợ chồng thường mâu thuẫn kình cãi làm ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái, hiện nay các bên đã mạnh ai nấy sống. Nay bà thật sự không còn tình cảm nên đề nghị Tòa cho bà được ly hôn.
Về con chung: Cháu Trần Gia H sinh ngày 10/4/2006 đã trưởng thành; còn cháu Trần Anh Thư s ngày 27/3/2010 bà đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bà yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 con chung 4.000.000 đồng/ tháng. Nay tại Toà, bà chỉ yêu cầu ông T cấp dưỡng cho cháu T1 2.000.000 đồng/ tháng (bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi);
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn- Ông Trần Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Trần Văn T để ông T đến Toà thể hiện ý kiến, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà Đặng Bích Đ được ly hôn với ông Trần Văn T; về con chung: Cháu Trần Gia H sinh ngày 10/4/2006 đã trưởng thành; giao cháu Trần Anh Thư s ngày 27/3/2010 cho bà Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng (bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi); về tài sản chung, nợ chung: các bên không yêu cầu Toà án giải quyết; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Bích Đ yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T, các đương sự có nơi thường trú tại: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn, con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn -Ông Trần Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa các bên là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 03/02/2005 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ cho rằng đời sống của 02 vợ chồng đã có những mâu thuẫn nghiêm trọng, kéo dài gây ảnh hưởng đến sự phát triển của các con chung, vì vậy bà đề nghị được ly hôn với ông T.
Xét thấy: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Toà án đã cho các bên nhiều thời gian để hoà giải nhưng ông T vẫn không đưa ra được biện pháp để hàn gắn tình cảm gia đình. Tại phiên toà hôm nay, ông T cũng vắng mặt không có lý do; điều này chứng tỏ ông T không còn quan tâm đến vấn đề hôn nhân và không có thiện chí muốn hoà giải đoàn tụ với vợ. Như vậy có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa các bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của bà Đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.
[3] Về con chung: Cháu Trần Gia H sinh ngày 10/4/2006 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Đ yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung còn lại là cháu Trần Anh Thư s ngày 27/3/2010; và yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng (bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi).
Xét thấy: Cháu T1 đã trên 07 tuổi, có giới tính nữ, hiện đang sống cùng mẹ, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với mẹ. Do đó, bà Đ trực tiếp chăm sóc cháu sẽ tốt cho sự phát triển của cháu. Theo Biên bản xác minh tại địa phương, ông T có nghề nghiệp làm nông, vì vậy có cở sở để chấp nhận mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/ tháng của bà Đ.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn- Bà Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Bị đơn- Ông T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn- Bà Đặng Bích Đ được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về con chung: Cháu Trần Gia H sinh ngày 10/4/2006 đã trưởng thành; Giao cháu Trần Anh Thư s ngày 27/3/2010 cho bà Đặng Bích Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; ông Trần Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 (Hai triệu) đồng/ tháng; bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
- Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, ông T, bà Đ có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung, cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn- bà Đặng Bích Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007037 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; bà Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Ông Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Lãm |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đặng bích đ ly hôn trần văn t
