Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T1

TỈNH T2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16/8/2024

(V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa

chị Q và anh Q (D))

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Hiểu.
  2. Bà Tô Thị Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1 tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Việt Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Q, sinh năm 1983. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn ĐH, xã NH, huyện T1, tỉnh T2.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Q (tên gọi khác Duy), sinh năm 1993. (Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã NT, huyện T1, tỉnh T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình hòa giải, nguyên đơn là chị Đặng Thị Q trình bày:

Chị và anh Phạm Văn Q (tức Duy), sinh năm 1993, có địa chỉ tại Thôn Đại Đồng, xã NT, huyện T1, tỉnh T2 tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NT, huyện T1, tỉnh T2 vào ngày 14/10/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không hiểu và cảm thông cho nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ ngày 19/2/2023 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn Q (D).

Về con chung, theo chị Q trình bày chị và anh Q (D) không có con chung, hiện chị Q không có thai.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị Q, chị và và anh Q (D) không có tài sản chung, không vay nợ chung tài sản của ai. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi cho anh Phạm Văn Q (D) thông báo thụ lý, thông báo đến phiên công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên Quân (D) không đến Tòa án.

Tại Biên bản Lấy lời khai ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại gia đình anh Phạm Văn Q (D) thôn ĐĐ, xã NT, huyện T1, tỉnh T2 anh Phạm Văn Q (D) trình bày:

Anh và chị Đặng Thị Q tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NT, huyện T1, tỉnh T2 vào ngày 14/10/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tình tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Tháng 2/2023 anh và chị Q sống ly thân từ đó đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị Q có đơn xin ly hôn quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.

Quá trình chung sống anh và chị Q không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở UBND xã NT, huyện T1, ông Đào Văn H, Phó Chủ tịch UBND xã và ông Phạm Quốc Tr, cán bộ tư pháp xã NT cung cấp:

Chị Đặng Thị Q và anh Phạm Văn Q (D) tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NT, huyện T1, tỉnh T2 vào ngày 14/10/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm được. Nay chị Q có đơn xin ly hôn anh Q (D), quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về quan hệ con chung, quá trình chung sống chị Q và anh Q (D) không có con chung. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung, quá trình chung sông chị Q và anh Q (D) có tài sản chung, nợ chung hay không địa phương không nắm được.

Tại phiên công khai chứng cứ, hòa giải ngày 12/7/2024, chị Q có mặt, anh Q (D) vắng mặt không có lý do. Ngày 06/8/2024, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án, chị Q vắng mặt có đơn xin xét xử văng mặt, anh Q (D) không đến phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, phiên tòa được mở lại vào ngày 16/8/2024.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Q (D) vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị Q có đơn xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh anh Q (D).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Đặng Thị Q được ly hôn anh Phạm Văn Q (D). Về con chung, không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả giải quyết tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Đặng Thị Q vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Phạm Văn Q (D) vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Q và anh Q (D).

[2] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Chị Đặng Thị Q và anh Phạm Văn Q (D) kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Q cung cấp phù hợp với các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án nên xác định: Sau khi đăng ký kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không hòa thuận, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay không ai còn quan tâm đến ai.

[2.2] Chị Q có đơn xin ly hôn, Tòa án đã ra thông báo thụ lý, thông báo đến tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, anh Q (D) có biết nhưng không đến Tòa án. Tòa án đã tổ chức hòa giải, anh Q (D) vắng mặt. Tại các phiên tòa, anh Q (D) đều vắng mặt, anh cũng không đưa ra được biện pháp để vợ chồng trở về đoàn tụ, mặt khác anh Q (D) cũng đồng ý ly hôn; chị Q kiên quyết xin ly hôn, bản thân anh Q (D) và chị Q đã sống ly thân từ tháng 02/2023. Như vậy, có thể thấy tình cảm vợ chồng của chị Q và anh Q (D) đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Đặng Thị Q được ly hôn anh Phạm Văn Q (D).

[3] Về con chung: Chị Q và anh Q (D) không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q và anh Q (D) không có tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra giải quyêt.

[5] Về án phí: Chị Đặng Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Xử cho chị Đặng Thị Q được ly hôn anh Phạm Văn Q (D).

  3. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Nguyên đơn là chị Đặng Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Q đã nộp theo Biên lai số 0002627 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh T2, chị Đặng Thị Q đã nộp đủ án phí.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện T1;
  • - Chi cục THADS huyện T1;
  • - UBND xã NT (ĐKKH ngày 14/10/2022);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đồng Ngọc Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Q-Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger