|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày 16 tháng 05 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai.
Bà Dương Thị Kim Lan.
Thư ký phiên tòa Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09/05/2024; 14/05/2024 và 16/05/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 19/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST- HS ngày 22/04/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/QĐH-HSST ngày 09/05/2024 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Đỗ Thị L – sinh ngày 20/10/1984;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Đỗ Kiến H – đã chết; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1953 – Làm ruộng; Gia đình có 04 anh chị em. Bị cáo là con thứ ba; Họ và tên chồng: Phùng Viết H2 - sinh năm 1977 – Lao động tự do; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Nguyễn Hữu T – sinh ngày 20/9/1977;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm B, thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm B, thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Hữu B – sinh năm 1950 – Làm ruộng; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1953 – Làm ruộng; Gia đình có 04 chị em. Bị cáo là con thứ ba; Họ và tên vợ: Lưu Thị T1 - sinh năm 1980 – Làm ruộng; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Phan Văn K – sinh ngày 09/11/1979;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm I, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm I, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Phan Văn T2 – đã chết; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T3 – sinh năm 1944 – Làm ruộng; Gia đình có 08 anh chị em. Bị cáo là con thứ bảy; Vợ: không; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Nguyễn Thị H3 – sinh ngày 01/8/1980;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm B, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm A, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Viết S – sinh năm 1949 – Làm ruộng; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị C – sinh năm 1952 – Làm ruộng; Gia đình có 03 anh chị em. Bị cáo là con thứ ba; Chồng: không; Con: có 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Phùng Quang T4 – sinh ngày 20/02/1973;
Tên gọi khác: Phùng Quang C1; Nơi sinh: thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Phùng Quang L2 – đã chết; Họ và tên mẹ: Phan Thị S1 – đã chết; Gia đình có 07 anh chị em. Bị cáo là con thứ bảy; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị H4 - sinh năm 1980 – Làm ruộng; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 22/5/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Đỗ Thị H5 – sinh ngày 04/12/1980;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm A, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm A, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Đỗ Văn H6 – sinh năm 1960 – Làm ruộng; Họ và tên mẹ: Lê Thị D – sinh năm 1960 – Làm ruộng; Gia đình có 03 chị em. Bị cáo là con thứ hai; Họ và tên chồng: Nguyễn Văn Đ - sinh năm 1975 – Làm ruộng; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Phùng Viết H2 – sinh ngày 08/10/1977;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Phùng Viết H7 – sinh năm 1938 – đã chết; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C2 – sinh năm 1943 – già yếu; Gia đình có 07 chị em. Bị cáo là con thứ tư; Họ và tên vợ: Đỗ Thị L - sinh năm 1973 – Lao động tự do; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Phùng Quang N – sinh ngày 16/8/1979;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Phùng Quang Y – sinh năm 1952 – Hưu trí; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị O – sinh năm 1952 – già yếu; Gia đình có 03 anh em. Bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Triệu Thị T5 - sinh năm 1983 – Lao động tự do; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 15/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (đã xóa án tích); Bị áo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Đỗ Thị M – sinh ngày 15/3/1976;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm A, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm A, thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Đỗ Văn D1 – sinh năm 1936 – già yếu; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T6 – sinh năm 1946 – Làm ruộng; Gia đình có 06 chị em. Bị cáo là con thứ ba; Họ và tên chồng: Phùng Đình B1 - sinh năm 1973 – Lao động tự do; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (đã xóa án tích); Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
-
Họ và tên: Nguyễn Thị H8 – sinh ngày 01/7/1971;
Tên gọi khác: không; Nơi sinh: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm H, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Khắc V – đã chết; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ1 – đã chết; Gia đình có 05 anh chị em. Bị cáo là con thứ năm; Họ và tên chồng: Nguyễn Đình Y1 - sinh năm 1966 – Lao động tự do; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 09/7/2018, bị Công an huyện M ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép (đã được xóa). Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên toà)
* Người làm chứng: Nguyễn Thị C3 sinh năm: 1955
Nơi cư trú: Thôn B, T, huyện M, thành phố Hà Nội
(Vắng mặt tại phiên toà)
* Người chứng kiến: Lưu T, sinh năm:
Nơi cư trú: Trưởng thôn 2, T, huyện M, thành phố Hà Nội
(Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 31/01/2024, tổ công tác Đ2 - Công an huyện M phối hợp với Công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang tại phòng khách tầng một nhà Phùng Viết Thắng (sinh năm 1983), trú tại thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội các đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” ăn tiền. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, các đối tượng khai nhận như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 31/01/2024, Đỗ Thị L và Đỗ Thị H5, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Hữu T đến nhà Phùng Viết T7 chơi, hỏi thăm sức khỏe T7. Khi L và H5, H3, T đang ngồi chơi uống nước tại phòng khách tầng một nhà T7 thì L rủ mọi người đánh bạc ăn tiền. H5, H3 và T đồng ý. Sau đó, L lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trên tủ giày nhà T7 rồi L cùng H5, H3 và T ngồi xuống chiếu đã trải sẵn dưới nền nhà tại phòng khách tầng một nhà T7 để đánh bạc. Khi bắt đầu đánh bạc, các bị can thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng”, với số tiền đặt gà là 20.000 đồng, tố cược tối thiểu là 20.000 đồng, tố cược tối đa là 100.000 đồng, người thắng sẽ thu tất cả tiền gà và tiền tố cược. Khi L cùng H5, H3 và T đang đánh bạc ăn tiền thì lần lượt có Phùng Quang N, Phùng Quang T4 (tên gọi khác Phùng Quang C1), Đỗ Thị M, Phan Văn K đến nhà T7 chơi và tham gia đánh “Liêng” ăn tiền cùng H5, H3, T và L. Khi các bị can đang đánh bạc thì Nguyễn Thị C3 (sinh năm 1955, trú tại thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) đến ngồi xem, không tham gia đánh bạc. Sau đó, Nguyễn Thị H8 và Phùng Viết H2 đến nhà T7 chơi và tham gia đánh bạc cùng các bị can. Sau khi đánh bạc được khoảng 02 ván, do bị thua nên H8 ngồi xem các bị can đánh bạc. Quá trình đánh bạc, do T4 uống nhiều rượu nên không chơi nữa và ngồi lên trên ghế xem các bị can đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, Đỗ Thị L có khoảng 1.100.000 đồng, Nguyễn Hữu T có khoảng 1.800.000 đồng, Phan Văn K có khoảng 1.700.000 đồng, Nguyễn Thị H3 có khoảng 1.300.000 đồng, Phùng Quang T4 có khoảng 1.000.000 đồng, Đỗ Thị H5 có khoảng 500.000 đồng, Phùng Viết H2 có khoảng 460.000 đồng, Phùng Quang N có khoảng 350.000 đồng, Đỗ Thị M có khoảng 200.000 đồng, Nguyễn Thị H8 có 17.000 đồng và H8 xin của H5 20.000 đồng, xin của N 10.000 đồng để tham gia đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, khi các bị can đang đánh bạc sát phạt nhau thì bị công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M, các bị can Đỗ Thị L, Nguyễn Hữu T, Phan Văn K, Nguyễn Thị H3, Phùng Quang T4, Đỗ Thị H5, Phùng Viết H2, Phùng Quang N, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị H8 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên; các bị can Đỗ Thị L, Nguyễn Hữu T, Phan Văn K, Nguyễn Thị H3, Đỗ Thị H5, Phùng Viết H2, Nguyễn Thị H8 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- + Thu giữ số tiền: 8.497.000 đồng. Trong đó: thu giữ tại chiếu bạc: 7.660.000 đồng; thu giữ trên người Phùng Quang T4: 390.000 đồng; thu giữ trên người Nguyễn Thị H8: 7.000 đồng; thu giữ trên người Phùng Viết H2: 440.000 đồng;
- + 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, đã qua sử dụng;
- + 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng.
Toàn bộ số vật chứng đã thu giữ trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Phùng Viết T7 là chủ nhà nơi các bị can đánh bạc: quá trình điều tra xác định, khi các bị can đánh bạc tại phòng khách tầng một nhà T7 thì T7 đang nằm nghỉ tại tầng hai, T7 đang bị bệnh di chứng xuất huyết nội sọ, liệt nửa người, T7 không biết việc các bị can đánh bạc tại nhà mình và không được hưởng lợi gì từ việc các bị can đánh bạc. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Thị C3, quá trình điều tra xác định có mặt tại nơi đánh bạc nhưng chỉ xem, không tham gia đánh bạc nên không xem xét xử lý.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp tài liệu hồ sơ của vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 17/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố các bị cáo tội: “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải.
* Về tội danh và hình phạt:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo:- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị L mức án từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù giam.
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H8 mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù giam.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo:
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị M mức án từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù giam.
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Phùng Quang T4 (C1) mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù giam.
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Phùng Quang N mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù giam.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo:
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T, Phan Văn K, Nguyễn Thị H3 mức án từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 (ba mươi) tháng.
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị H5, Phùng Viết H2 mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng.
* Về dân sự và xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.- - Về trách nhiệm dân sự: Không.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước Số tiền 8.479.000₫.
* Về án phí:
Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.* Về quyền kháng cáo:
Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] - Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố.
HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/01/2024, tại thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Đỗ Thị L, Nguyễn Hữu T, Phan Văn K, Nguyễn Thị H3, Phùng Quang T4, Đỗ Thị H5, Phùng Viết H2, Phùng Quang N, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị H8 đã có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện M phối hợp với Công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là: 8.497.000 đồng.Trong vụ án này, Đỗ Thị L giữ vai trò là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phương tiện và trực tiếp tham gia đánh bạc; Nguyễn Hữu T, Phan Văn K, Nguyễn Thị H3, Phùng Quang T4, Đỗ Thị H5, Phùng Viết H2, Phùng Quang N, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị H8 giữ vai trò thực hiện hành vi đánh bạc tích cực.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo các bị cáo và để giúp các bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.
Trong vụ án này, Đỗ Thị L có vai trò khởi xướng, rủ rê các bị cáo đánh bạc và trực tiếp cùng với các bị cáo khác tham gia đánh bạc. Các bị cáo khác tham gia tích cực.
[3] Xét nhân thân các bị cáo: Không tiền án, không tiền sự. (Bị cáo T4, N, M, có tiền án đã được xóa án tích. Bị cáo H8 có tiền sự đã được xóa. Các bị cáo khác lần đầu phạm tội.
[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:
- - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không.
- - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- + Bị cáo thành khẩn khai báo.
- + Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
- + Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định.
- + Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.
- + Bị cáo tích cực hợp tác cơ quan điều tra trong quá trình giải quyêt vụ án.
- + Số tiền các bị cáo dùng đánh bạc ít, không đến mức nghiêm trọng.
- + Bị cáo thực hiện với vai trò đồng phạm giản đơn.
Bị cáo Phùng Quang N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt lý do thờ cúng liệt sỹ, nuôi 2 con nhỏ, bản thân nhiều bệnh tật.
Bị cáo Phan Văn K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt lý do công việc không ổn định, mẹ già đau ốm, đang nuôi con nhỏ, có bác ruột là liệt sỹ.
Điều 69 Bộ luật hình sự qui định “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”. Do vậy được xác định là các bị cáo lần đầu phạm tội.
Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: theo điểm s, điểm t, điểm i khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với các bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo cũng đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo L, T4, N, H8, M là chưa phù hợp với pháp luật; đề nghị áp dụng mức hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo còn lại là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước Số tiền 8.497.000₫ (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/04/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh)
[7] Các vấn đề khác: Không có. Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
QUYẾT ĐỊNH
Vì các lẽ trên,
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Đỗ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Đỗ Thị L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H8 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị H8 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Đỗ Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Đỗ Thị M. 14 (mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 28 (hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Phùng Quang T4 (C1) phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Phùng Quang T4 (C1) 11 (mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Phùng Quang N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Phùng Quang N 11 (mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Hữu T 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Phan Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Phan Văn K 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H3 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị H3 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Đỗ Thị H5 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Đỗ Thị H5 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Tuyên bố bị cáo: Phùng Viết H2 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
Bị cáo Phùng Viết H2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T - huyện M - TP Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của luật thi hành án hình sự 2019.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và điều 93 của luật thi hành án hình sự 2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về dân sự và xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.- - Về trách nhiệm dân sự: Không.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng, 01 chiếu đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước Số tiền 8.497.000₫ (tám triệu bốn trăm chín mươi bẩy ngàn) đồng. (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/04/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh)
* Về án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Phong |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về đánh bạc
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Lợi cùng 7 bị cáo tổ chức đánh bạc
