Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố

Các hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Thanh Tâm và ông Nguyễn Thành Ngọc

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Trần Huỳnh Như T - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn L

Lê Văn L, sinh năm 1984, tại: Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: không có nơi đăng ký thường trú; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nơi đã từng cư trú: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, (địa chỉ thường trú của mẹ ruột); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (không rõ năm sinh); con bà: Bùi Thị Thanh Đ, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 09-12-2023, tạm giam từ ngày 15-12-2023 cho đến nay, (Có mặt).

- Bị hại: chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Bùi Thị Thanh Đ, sinh năm 1958. Địa chỉ: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn L là đối tượng không có nghề nghiệp, sống lang thang. Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 12-11-2023, Lê Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số kiểm soát 60F-39891 của bà Bùi Thị Thanh Đ (mẹ ruột L) đến khu vực chợ L1 thuộc khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. L đi vào trong chợ, thấy chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1974, nơi thường trú: khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai đang dọn dẹp ở phía trong ki ốt để chuẩn bị ra về, phía trước có xe mô tô treo một túi xách màu đen trên tay lái. L dựng xe của mình cách ki ốt của chị T1 khoảng 20 mét, đi bộ đến gần chiếc xe, lợi dụng lúc chị T1 đang dọn dẹp không ai trông coi, L lén lút lấy trộm chiếc túi xách trên xe của chị T1 rồi lên xe mô tô bỏ chạy về hướng xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Khi đến gần khu vực chợ X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, L dừng xe, kiểm tra bên trong túi xách màu đen có các tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO 40, màu vàng, số IMEI 1: 862598055391643, số IMEI 2: 862598055391650; số tiền 5.200.000 đồng; 01 sổ hộ khẩu tên chủ hộ Nguyễn Thị Ngọc T1; 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 căn cước công dân; 01 giấy khai sinh cùng tên Nguyễn Thị Ngọc T1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số kiểm soát 60B2 - 36493. L lấy tiền và điện thoại, vứt túi xách cùng các giấy tờ khác lại bụi cây. Sau đó, chị T1 được một người thanh niên (không rõ họ và tên) liên hệ trả lại túi xách và giấy tờ tuỳ thân.

Đến ngày 08-12-2023, L đi lang thang đến khu vực chợ P, thuộc thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với mục đích tìm tài sản để trộm cắp thì bị lực lượng Công an thị trấn P phát hiện, nghi vấn và đưa về trụ sở làm việc. Tại đây, qua khai thác, L khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị T1 xảy ra vào ngày 12-11-2023, tại khu vực chợ L1. Công an phường P mời chị T1 đến làm việc, đồng thời thông báo cho Công an phường X, thành phố L tiếp nhận, lập hồ sơ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 135/HĐGTSTTTHS ngày 14 tháng 12 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: Một điện thoại nhãn hiệu POCO 40, màu vàng, đã qua sử dụng (thời điểm ngày 12-11-2023), có giá trị là 2.100.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/HĐGTSTTTHS ngày 23 tháng 02 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: Một túi đeo màu đen, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng (thời điểm ngày 12-11-2023), có giá trị là 150.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKSLK ngày 05 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố Lê Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau: (1) Về tội danh: đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; (2) Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 08 đến 10 tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, không tham gia tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng như sau: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nhưng lại lười lao động, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi, quản lý tài sản, Lê Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một 01 túi xách màu đen, 01 điện thoại di động và số tiền 5.200.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.450.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải lao động, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; đã bồi thường thiệt hại nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về các biện pháp tư pháp:

7.1. Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO 40; 01 túi xách màu đen đã được trao trả cho bị hại là đúng quy định.

7.2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại 3.000.000 đồng, không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

7.3. Các đồ vật, tài liệu khác: (1) Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số kiểm soát 60F4 - 39891 là tài sản của bà Bùi Thị Thanh Đ, cho L mượn làm phương tiện, bà Đ không biết L sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra đã trả lại tài sản cho bà Đ là đúng quy định. (2) Số tiền 27.320.000 đồng; 01 con dao dài 28cm, thu giữ trên người của L, không liên quan đến tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8] Về án phí:

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cũng như đề nghị mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo 08 (T2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 12 năm 2023.

3. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND thành phố Long Khánh (2);
  • - CQCSĐT CA thành phố Long Khánh (1);
  • - CQTHAHS CA thành phố Long Khánh (1);
  • - CCTHADS thành phố Long Khánh (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Bị hại (1)
  • - Người có quyền lợi NVLQ (1);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Lâm có hành vi trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger