Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST

Ngày: 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Vũ - Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Cờ Đỏ
  2. Bà Lê Thị Xuân Hiền - Hiệu trưởng trường THCS Thạnh Phú 1, huyện Cờ Đỏ

- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2023/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với:

Bị cáo Trần Hữu T, sinh ngày 08/11/2005; Nơi sinh: Huyện P, thành phố Cần Thơ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã T, huyện C, TP Cần Thơ. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1 và bà Thạch Thị P; Chị, em có 02 người, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người giám hộ cho bị cáo: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, TP Cần Thơ. Là cha ruột của bị cáo T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Hoàng B -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C. Có mặt.

- Bị hại: Chị Lê Nguyễn Bích C, sinh năm 1990. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Văn T1, sinh năm 1976. Có mặt.

Anh Trần Hữu T2, sinh năm 2009. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.

Người giám hộ cho anh T2: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, TP Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 01/5/2023 bị cáo Trần Hữu T rủ em ruột là Trần Hữu T2 đi đến quán nước giải khát T.A.O tại ấp P, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ do chị Lê Nguyễn Bích C làm chủ để trộm cắp tài sản. Bị cáo và T2 đi bộ đến quán T3, cả hai chui qua hàng rào lưới B40 vào bên trong quán, thấy bên trong quầy pha chế bị khóa, bị cáo đến bấm thử mở mật khẩu nhưng không được nên bị cáo và T2 đi về nhà lấy cây tua vít rồi cùng quay trở lại. Bị cáo dùng cây tua vít mở ốc của vách tol chui vào bên trong quầy pha chế còn T2 đứng ngoài cửa canh chừng. Tại quầy pha chế bị cáo mở đèn pin của điện thoại Nokia 1280 để rọi tìm tài sản thì thấy chùm chìa khóa nên đã mở ngăn tủ của quầy pha chế thấy có 03 cọc tiền được cột dây thun và vài tờ tiền khác để cạnh đó nên lấy hết đem ra ngoài đưa cho T2; sau đó bị cáo trở vào lấy trộm một con heo đất để tại quầy rồi cùng T2 đi về nhà, trên đường về bị cáo đập bể con heo đất để lấy tiền và ném bỏ hết mảnh vụn con heo đất. Khi về đến nhà bị cáo và T2 chia nhau số tiền lấy trộm, chia cho T2 4.420.000 đồng, còn bị cáo giữ lại 4.580.000 đồng, tổng số tiền lấy trộm là 9.000.000 đồng. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 02/5/2023 chị C phát hiện bị mất tiền nên kiểm tra camera và đến Công an xã T, huyện C trình báo.

Ngoài ra, vào đêm tối ngày 30/4/2023, rạng sáng 01/5/2023 Trần Hữu T và Trần Hữu T2 còn lén lút lấy trộm tiền Việt Nam 580.000 đồng tại quán nước giải khát T.A.O của chị C.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 con heo đất màu đỏ (loại heo bỏ ống tiết kiệm) bị bể thành nhiều mảnh có hình không xác định.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 con heo đất, có giá trị 20.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số: 480/KLGĐĐT-TTPYCT ngày 09 tháng 8 năm 2023 của trung tâm pháp y thành phố C đối với Trần Hữu T, kết luận: qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định Trần Hữu T có độ tuổi từ 17 năm 09 tháng đến 18 năm 03 tháng (tại thời điểm giám định ngày 04/8/2023).

Bị cáo Trần Hữu T đã giao nộp tiền Việt Nam 4.580.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia 1280; 01 nón kết màu xám xi măng; 01 cây vít có cán bằng nhựa màu xanh. Trần Hữu T2 giao nộp tiền Việt Nam 4.420.000 đồng.

Đối với 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ trộm được sao chép qua đĩa DVD lưu vào hồ sơ vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C trả lại 9.000.000 đồng cho chị Lê Nguyễn Bích C và ông Trần Văn T1 cha của Trần Hữu T đã bồi thường 580.000 đồng cho Lê Nguyễn Bích C, chị C đã nhận và không yêu cầu bồi thường.

Đối với Trần Hữu T2, sinh ngày 15/8/2009 đến thời điểm phạm tội T2 chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý đối với T2.

Bản cáo trạng số 41/CT-VKSCĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Trần Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại chị Lê Nguyễn Bích C số tiền 9.000.000 đồng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia 1280. Tịch thu tiêu hủy: 01 Nón kết màu xám xi măng; 01 tua vít 4 cạnh có tay cầm màu xanh; Các mãnh vụn của con heo đất. Lưu hồ sơ 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ trộm được sao chép qua đĩa DVD.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận việc gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho chị C số tiền 580.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo T thống nhất tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luận tội của kiểm sát viên; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình, sự thành khẩn của bị cáo cho bị cáo hưởng án treo theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại chị Lê Nguyễn Bích C vắng mặt nhưng quá trình điều tra xác định đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cãi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhận thấy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo thống nhất nội dung cáo trạng truy tố và khai nhận: Để có tiền chơi game và tiêu vài cá nhân thì vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 01/5/2023 bị cáo Trần Hữu T rủ em ruột là Trần Hữu T2 đi đến quán nước giải khát T.A.O tại ấp P, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ do chị Lê Nguyễn Bích C làm chủ để trộm cắp tài sản. T2 ở ngoài canh chừng, còn bị cáo vào trong quán để tìm kiếm tài sản. Bị cáo đã mở ngăn tủ của quầy pha chế, thấy có 03 cọc tiền được cột dây thun và vài tờ tiền khác để cạnh đó nên lấy hết đem ra ngoài đưa cho T2; sau đó bị cáo trở vào lấy trộm một con heo đất để tại quầy rồi cùng T2 đi về nhà, trên đường về bị cáo đập bể con heo đất để lấy tiền và ném bỏ hết mảnh vụn con heo đất. Khi về đến nhà bị cáo và T2 chia nhau số tiền lấy trộm, chia cho T2 4.420.000 đồng, còn bị cáo giữ lại 4.580.000 đồng, tổng số tiền lấy trộm là 9.000.000 đồng.

Ngoài ra, vào đêm tối ngày 30/4/2023, rạng sáng 01/5/2023 bị cáo và Trần Hữu T2 còn lén lút lấy trộm tiền Việt Nam là 580.000 đồng tại quán nước giải khát T.A.O của chị C.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa. Xét thấy bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi lợi dụng sơ hở của người khác, để lén lút lấy trộm tài sản, tài sản bị cáo lấy trộm có giá trị trên 2.000.000đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có trình độ học vấn thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Xét thấy, bị cáo phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù là tội ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, thời điểm phạm tội chưa thành niên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự. Công nhận việc gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 580.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại chị Lê Nguyễn Bích C số tiền 9.000.000 đồng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia 1280. Tịch thu tiêu hủy: 01 Nón kết màu xám xi măng; 01 tua vít 4 cạnh có tay cầm màu xanh; các mãnh vỡ vụn của con heo đất. Lưu hồ sơ 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ trộm được sao chép qua đĩa DVD.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

    Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2023.

    Giao bị cáo cho Ấp P, xã T, huyện C, TP Cần Thơ. giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự. Công nhận việc gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 580.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại chị Lê Nguyễn Bích C số tiền 9.000.000 đồng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia 1280. Tịch thu tiêu hủy: 01 Nón kết màu xám xi măng; 01 tua vít 4 cạnh có tay cầm màu xanh; các mãnh vỡ vụn của con heo đất. Lưu hồ sơ 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ trộm được sao chép qua đĩa DVD.
  6. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ/VKSCĐ ngày 17/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ).

  7. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Cờ Đỏ;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện Cờ Đỏ;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS sự huyện Cờ Đỏ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger