Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 49/2024/HS-PT

Ngày 15 tháng 8 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền

  • - Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

    Bà Nguyễn Thị Thùy Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Phan Minh T, bị hại Nguyễn Anh T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:43/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXPT- HS ngày 05/01/2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa, đối với bị cáo:

Bị cáo Phan Minh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27 tháng 04 năm 1991; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú: Khu H, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con ông: Phan Văn T2 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; Vợ: Nông Thị H, sinh năm 1991(đã ly hôn); Con gái: Có 01 con sinh năm 2014; Anh chị em: có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 19/3/2009 có hành vi đánh bạc tại khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính 500.000đ. Chấp hành nộp phạt ngày 20/4/2009. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Anh T1 – Sinh năm 1989; Trú tại: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Hiện đang bị tạm giam tại Công an Quận T - thành phố Hà Nội.

(Anh Tuấn vắng mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Đặng Thị Thanh T3, sinh năm 1978; trú tại: Khu Phố Ẻ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có đơn xét xử văng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận được đơn trình báo đề ngày 14/12/2016 của Nguyễn Anh T1, sinh năm 1989, ở khu A, xã Y (nay là khu A, xã H), huyện T, tỉnh Phú Thọ về việc ngày 17/11/2016 Nguyễn Anh T1 có mua 01 xe mô tô HonDa SH 150i, màu trắng - đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10 của Phan Minh T sinh năm 1991, trú tại khu F xã V, huyện T ( nay là khu H, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ) với số tiền là 70.000.000đ. Sau khi làm thủ tục mua bán xong, T đã mượn lại xe của T1. Thời gian sau đó, T vẫn không trả lại chiếc xe này cho anh T1.

Quá trình xác minh, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu thập các tài liệu có liên quan và ra Quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản huyện T định giá đối với: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, biển kiểm soát 19K1-21710; số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547”; Trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký đối với các tài liệu giấy tờ mua bán xe của Phan Minh T với anh Nguyễn Anh T1 và chị Đặng Thị Thanh T3.

Ngày 22/2/2017, Hội đồng định giá tài sản huyện T có Kết luận về việc định giá tài sản số 07, kết luận:

“01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng-đen; biển kiểm soát 19K1-21710; số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547” là 86.093.750 đồng.

Ngày 10/4/2017, Phòng K, Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 870, kết luận:

“Chữ ký đứng tên Phan Minh T và các chữ “Phan Minh T” dưới mục “Chủ xe bán, cho, tặng; người vat; người bán” trên” Giấy bán, cho, tặng xe; giấy vay tiền, giấy bán xe (tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4) so với chữ ký, chữ viết dưới mục “Chữ ký của chồng” tại trang số 233 trong “Sổ đăng ký kết hôn” (tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M) là do cùng một người ký, viêt ra”.

Xét vụ việc có dấu hiệu phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án về vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS. Do hết thời hạn điều tra chưa lấy được lời khai của Phan Minh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài tài theo quy định tại điều 139 BLHS năm 1999

Ngày 24/4/2023, Phan Minh T đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T trình diện, khai báo hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án đối với vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS và ra quyết định khởi tố bị can đối với Phan Minh T. Tại Cơ quan điều tra Phan Minh T khai nhận:

Để có tiền thực hiện công việc chạy quảng cáo trên ứng dụng Facebook cho những người có nhu cầu, T đến nhà chị Đặng Thị Thanh T3, sinh năm 1979, là mợ của T, tại khu H, xã V (nay là khu Phố Ẻn, xã M), huyện T, tỉnh Phú Thọ hỏi vay tiền. Lần đầu vào ngày 30/4/2016 T hỏi vay của chị T3 50.000.000đ. Chị T3 đồng ý cho T vay tiền và không tính lãi. T nói: “Thế để cháu viết Giấy bán xe làm tin cho mợ”, chị T3 đồng ý và lấy giấy, bút đưa cho T viết Giấy bán xe nội dung ngày 30/04/2016, T bán cho chị T3 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng - đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10 nhưng không viết giá bán. Sau đó, T đưa lại Giấy bán xe cho chị T3, chị T3 đưa cho T vay số tiền 50.000.000đ. Đối với Giấy bán xe làm tin của T viết cho chị T3, chị T3 đến UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ xin chứng thực và đã được cán bộ, chủ tịch UBND xã chứng thực nội dung Giấy bán xe của T cho chị T3. Lần thứ hai vào đầu tháng 05/2016, T hỏi vay nóng thêm 20 triệu nữa. Chị T3 đồng ý cho T vay thêm tiền nhưng bảo T phải viết Giấy bán xe theo mẫu vì lần trước không viết theo mẫu sợ không có giá trị, T đồng ý. Chị T3 bảo viết giấy tờ mua, bán xe thì phải có người chứng kiến nên gọi cho anh Ngô Kim N, sinh năm 1991, trú tại khu A, xã V (nay là khu V, xã M), huyện T, tỉnh Phú Thọ là bạn thân của T đến chứng kiến. Tại đây, chị T3 đưa cho T 1 mẫu Giấy bán, cho, tặng xe theo mẫu in sẵn, T chỉ điền thêm một số thông tin vào để xác nhận bán chiếc xe mô tô HonDa SH 150i, màu trắng - đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10, Giấy bán xe ghi ngày 30/4/2016, giá bán là 70.000.000đ. Sau khi viết xong, T đưa lại Giấy bán xe theo mẫu cho chị T3, chị T3 đưa cho T vay thêm số tiền 20.000.000đ. Sau cả hai lần vay tiền và viết giấy bán xe để làm tin, T vẫn quản lý và sử dụng xe mô tô HonDa SH 150i, màu trắng - đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10.

Khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7/2016, do không có tiền chi tiêu cá nhân, Phan Minh T đã đến nhà Nguyễn Anh T1, thỏa thuận bán chiếc xe mô tô HonDa SH 150i, màu trắng - đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10 cho anh T1 với giá 70.000.000₫ mục đích lấy tiền chi tiêu cá nhân, khi mua bán xe, bán chiếc xe mô tô Honda SH 150i, gắn BKS 19K1 – 217.10, T1 là người viết các nội dung vào giấy bán xe và không ghi giá trị của chiếc xe, sau đó cả T và T1 cùng đi đến Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã M), huyện T để chứng thực, tại đây T đã ký vào giấy bán xe do T1 viết, còn T1 ghi ngày mua, bán xe vào Giấy là ngày 17/11/2016 và được cán bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã M), huyện T chứng thực, đóng dấu, xác nhận việc T bán chiếc xe Honda SH 150i, màu trắng, gắn BKS 19K1 – 217.10 cho anh T1. Sau khi hoàn tất việc mua bán T bảo T1: “Anh cho em mượn lại xe vài hôm để đi lại”. Trước khi bán chiếc xe Honda SH 150i, màu trắng, gắn BKS 19K1 – 217.10 cho anh T1, T đã nảy sinh ý định bán xe cho anh T1, sau đó lấy lý do thuê, mượn lại và đem sang giao lại cho chị T3 để gán nợ. Anh T1 đồng ý và lấy ra một “Giấy mượn xe” theo mẫu sẵn đề nghị T viết, điền thông tin vào tờ giấy này, nhưng không thể hiện số tiền mà T phải trả hằng ngày cho anh T1. Sau khi viết xong, T đưa lại giấy này cho anh T1 cất giữ. Sau đó, anh T1 giao cho T chìa khóa xe mô tô và chiếc xe Honda Sh mà T đã bán cho anh T1 và giữ lại đăng ký xe, T điều khiển xe mô tô về nhà sử dụng làm phương tiện đi lại. Sau đó một vài ngày, chị T3 có gặp T và bảo T phải đưa xe mô tô cho chị T3 quản lý để đảm bảo trả khoản nợ 70.000.000₫ mà T đã vay của gia đình chị T3. T đồng ý và điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng – đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10 đến để ở sân nhà chị T3 và đưa chìa khóa xe mô tô cho chị T3 giữ, coi như là trả cho chị T3 số tiền 70.000.000₫ sau T đã bỏ trốn khỏi địa phương, đi lao động tự do tại các tỉnh phía Nam. Sau đó, T đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T trình diện, khai báo hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tuy nhiên về số tiền hai bên giao nhận và tiền thuê xe giữa T1 và T không có sự thống nhất, cụ thể

Nguyễn Anh T1 trình bày:

Sau khi đã thực hiện xong các thủ tục mua bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa SH 150i, gắn BKS 19K1 – 217.10, T1 đã bảo chị Nguyễn Thơ X, sinh năm 1995 ( Là vợ T1 ) lấy tổng số tiền 70.000.000đ rồi đưa cho T đủ số tiền trên. Sau khi nhận tiền, T bảo: “Anh cho em mượn lại xe vài hôm để đi lại”. Anh T1 nói với T nếu mượn thì phải trả cho anh 100.000 đồng/ngày. T đồng ý. Anh T1 đưa cho T mẫu giấy mượn xe để T viết vào giấy này đưa cho anh T1, anh T1 không nhớ thời hạn mượn là bao lâu. Giấy mượn xe này anh T1 đã để ở đâu, anh T1 không nhớ.

Phan Minh T khai nhận:

T1 và T thỏa thuận với nhau là T bán chiếc xe mô tô Honda SH 150i, gắn BKS 19K1 – 217.10 của T cho anh T1 với giá 70.000.000₫, anh T1 đưa trước cho T 40.000.000đ, khi nào anh T1 sang tên, đổi chủ được thì anh T1 sẽ trả nốt số tiền 30.000.000đ còn lại. .

Sau khi chứng thực giấy tờ mua bán xong, T và anh T1 cùng về nhà của anh T1 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Anh T1 đi vào bếp nói với chị X: “Đưa cho anh bốn mươi triệu anh mua xe”. Chị X lấy ra số tiền 40.000.000₫ đưa cho anh T1. Anh T1 đưa luôn cho T số tiền 40.000.000₫ này tại quán, nhà của T1 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, còn lại 30.000.000₫ anh T1 chưa trả. Khi nhận tiền xong, T bảo: “Anh cho em mượn lại xe vài hôm để đi lại”. Anh T1 đồng ý với điều kiện T phải trả cho anh T1 5000 đồng/01 triệu/ngày, T phải trả trước 10 ngày là 2.000.0000 đồng. T đồng ý, đưa lại cho anh T1 2.000.000 đồng. Anh T1 lấy ra một “Giấy mượn xe” theo mẫu sẵn, anh T1 đề nghị T viết, điền thông tin vào tờ giấy này, nhưng không thể hiện số tiền mà T phải trả hằng ngày cho anh T1.

Ngoài lời khai trên, cả T và T1 không cung cấp được tài liệu nào khác để chứng minh.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Quyết định trưng cầu Phòng K, Công an tỉnh P giám định số khung, số máy của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng-đen; biển kiểm soát 19K1-21710; số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547. Ngày 24/6/2023, Phòng K Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 844/KL-KTHS, kết luận:

“Không phát hiện tẩy xóa, sửa chữa số máy, số khung”.

- Đối với 01 Giấy đăng ký xe mô tô số 006297 do Công an tỉnh P cấp ngày 10/3/2016, đứng tên chủ xe Phan Minh T của chiếc xe mô tô Honda SH 150i, màu trắng-đen; có số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547: Chị Nguyễn Thơ X trình bày: Giấy tờ này chị X bảo quản tại nhà ở của mình, tuy nhiên, quá trình chuyển chỗ ở từ khu A đến khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, chị X đã làm thất lạc giấy tờ trên.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • Số tiền 50.000.000₫ do Phan Minh T tự nguyện giao nộp trả lại cho chị Đặng Thị Thanh T3 để chuộc lại xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, biển kiểm soát 19K1-21710, đang được tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ .
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng - đen; số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547, biển kiểm soát 19K1-21710, đã qua sử dụng do Đặng Thị Thanh T3 giao nộp.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, xử:

  1. Căn cứ điểm e, khoản 2 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999
  2. Tuyên bố: bị cáo Phan Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Xử phạt: Phan Minh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các Điều 584; 585; 586; và Điều 589 Bộ luật dân sự Bị cáo Phan Minh T phải trả cho chị Đặng Thị Thanh T3 số tiền vay là 70.000.000đ. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện giao nộp 50.000.000đ tại cơ quan điều tra. Bị cáo còn phải nộp 20.000.000đ để trả lại cho chị T3. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật,người được thi hành án có đơn yêu cầu người có nghĩa vụ nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải trả tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán của số tiền còn phải thi hành. Trong trường hợp bản án được thi hành theo khoản 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Trả lại cho anh Nguyễn Anh T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng - đen; số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547, biển kiểm soát 19K1-21710, đã qua sử dụng. (Toàn bộ những vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có lưu trong hồ sơ vụ án). Bản án còn tuyên về án phí, án phí và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.

Kháng cáo:

Ngày 26/9/2023 bị cáo Phan Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Ngày 10/11/2023 người bị hại là Nguyễn Anh T1 có đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét buộc Phan Minh T phải trả lãi đối với khoản tiền 70.000.000đ từ năm 2016 đến năm 2023, mỗi tháng là 700.000đ x 39 tháng = 58.800.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phan Minh T vẫn giữ nguyên kháng cáo và xin được cải tạo ngoài xã hội và cung cấp tài liệu chứng cứ mới: 01 Biên lai thu tiền số 0001921 ngày 15/8/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Thanh Ba và 01 đơn đề nghị của bà Đặng Thị Thanh T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày đối với khoản tiền 10.200.000đ (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001921 ngày 15/8/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Thanh Ba thì 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) bị cáo T tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Anh T1; còn 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo T nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Minh T, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Anh T1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba. Về án phí: Bị cáo Phan Minh T không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo, bị hại trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Phan Minh T xin được cải tạo ngoài xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7/2016, do không có tiền chi tiêu cá nhân, Phan Minh T đã đến nhà Nguyễn Anh T1, thỏa thuận bán chiếc xe mô tô HonDa SH 150i, màu trắng - đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10 cho anh T1 với giá 70.000.000₫ mục đích lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Trước khi bán chiếc xe Honda SH 150i, màu trắng, gắn BKS 19K1 – 217.10 cho anh T1, T đã nảy sinh ý định bán xe cho anh T1, sau đó lấy lý do thuê, mượn lại chiếc xe mà T đã bán cho anh T1 để làm phương tiện đi lại và đem sang giao lại cho chị T3 để gán nợ. T1 đã giao xe cho T và giữ lại đăng ký xe. Sau đó một vài ngày, T điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng – đen, gắn BKS: 19K1 – 217.10 đến để ở sân nhà chị T3 và đưa chìa khóa xe mô tô cho chị T3 giữ để gán nợ, coi như trả cho chị T3 số tiền 70.000.000₫ sau đó T đã bỏ trốn khỏi địa phương, đi lao động tự do tại các tỉnh phía Nam. Đến ngày 24/4/2023 T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trình diện, khai báo hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ quyết định định hình phạt buộc bị cáo Phan Minh T 24 (Hai tư tháng) tù là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Tại cấp phúc thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Đặng Thị Thanh T3 có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo và bà T3 có quan điểm không yêu cầu bị cáo Phan Minh T phải bồi thường khoản tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) như bản án sơ thẩm đã tuyên. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho bà được 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng). Tại cấp phúc thẩm bà T3 có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường cho bà số tiền còn lại. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị Thanh T3 đối với khoản tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) mà bị cáo Phan Minh T còn phải bồi thường cho bà T3.

[3]. Đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Anh T1 đề nghị cấp phúc thẩm xem xét khoản tiền lãi đối với khoản tiền 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đổng) mà bị cáo Phan Minh T đã lấy tiền từ năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với khoản tiền này là khoản tiền giao dịch bị cáo T bán cho anh Nguyễn Anh T1 chiếc xe Honda SH 150i màu trắng, gắn BKS 19K1 - 217.10; chiếc xe Honda SH 150i này anh T1 vẫn là chủ sử dụng hợp pháp. Việc giao dịch mua - bán chiếc xe Honda SH 150i màu trắng giữa bị cáo T và T1 là giao dịch mua bán chứ không phải là hợp đồng vay mượn. Do vậy, việc anh T1 đề nghị được tính lãi khoản tiền mua xe của T là không có căn cứ. Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, khi giao dịch các bên phải có thỏa thuận về lãi. Tại cấp phúc thẩm anh T1 không nộp chứng cứ mới, không chứng minh việc có thỏa thuận về tính lãi suất. Do vậy, kháng cáo của anh Nguyễn Anh T1 yêu cầu bị cáo T phải trả cho anh khoản tiền lãi là 58.800.000đ (Năm mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) không được chấp nhận.

Quá trình giải quyết, xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo Phan Minh T tự nguyện bồi thường cho người bị hại là anh Nguyễn Anh T1 số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) do hành vi vi phạm của T là đã bán cho anh T1 nhưng anh T1 không được sử dụng. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Minh T về việc tự nguyện bồi thường cho người bị hại là anh Nguyễn Anh T1 số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện nộp tiền cho chị Đặng Thị Thanh T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án trong khung hình phạt là có căn cứ. Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra năm 2016 áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009, tuy nhiên nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 có lợi cho bị cáo hơn. Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại, người liên quan có đơn về nghị xem xét khi lượng hình và không để nghị bị cáo phải bồi thường khoản tiền còn lại. Do vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Từ những phân tích trên chấp nhận kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét xin được cải tạo ngoài xã hội của bị cáo Phan Minh T. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Nguyễn Anh T1.

[4]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa có căn cứ phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Phan Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e, khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Minh T; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Anh T1. Sửa bản án Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2023/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ điểm e, khoản 2 Điều 139 Bộ Luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015; điểm a, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23, điểm đ, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12//2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Xử phạt: Phan Minh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Minh T.

  1. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Phan Minh T phải trả cho chị Đặng Thị Thanh T3 số tiền vay là 70.000.000đ. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện giao nộp 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tại cơ quan điều tra. Ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đặng Thị Thanh T3 không yêu cầu bị cáo phải trả cho chị T3 số tiền nộp 20.000.000₫.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Minh T về việc tự nguyện bồi thường cho người bị hại là anh Nguyễn Anh T1 số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001921 ngày 15/8/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Thanh Ba với số tiền 10.200.000₫ (Mười triệu hai trăm nghìn đồng).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo khoản 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trả lại cho anh Nguyễn Anh T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu trắng - đen; số khung 1436FY020507, số máy KF14E0120547, biển kiểm soát 19K1-21710, đã qua sử dụng.

(Toàn bộ những vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có lưu trong hồ sơ vụ án).

  1. Về án phí:
  • Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo T đã nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001921 ngày 15/8/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Thanh Ba.
  • Án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo Phan Minh T, bị hại Nguyễn Anh T1 không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CA, TA, VKS, THADS huyện Thanh Ba;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - PV 06 CA tỉnh Phú Thọ.
  • - UBND xã Mạn Lạn
  • - Lưu HS, AV, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 49/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án HSPT Phan Minh T phạm tội LĐCĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger