Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 15 - 7 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Nhẫn, chuyên viên hội phụ nữ huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bà Cáp Thị Quyên, Bí thư đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã Hợp Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lưu Tuấn L, sinh năm 2001 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang, chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T, sinh năm 1973 và bà Khổng Thị T1, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền sự, nhân thân: Không có; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HSST ngày 18/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2023; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/3/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt tại phiên tòa.

- Các bị hại:

  • + Chị Nguyễn Phương A, sinh năm 2006, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Phương A: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
  • - Đại diện trường THPT Nhã Nam bà Nguyễn Thị H, giáo viên chủ nhiệm lớp 12A3 trường THPT N2, có mặt.
  • - Đoàn thanh niên cộng sản H4 trường THPT N2, bà Nguyễn Thị Huyền T2, Bí thư đoàn trường, vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1990, vắng mặt.
  • + Chị Dương Thị Huyền T4, sinh năm 1991, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  • + Anh Nguyễn Viết Q, sinh năm 1992, vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1994, vắng mặt.
  • + Bà Công Thị H1, sinh năm 1975, vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1986, vắng mặt
  • + Ông Thân Thanh H2, sinh năm 1980, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Trần Thị T5, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân Phố C, thị trần P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
  • + Bà Khổng Thị T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 24/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp nhận đơn trình báo của chị Trần Thị T5 về việc ngày 24/3/2024 chị T5 phát hiện tại cửa hàng điện dân dụng B, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T do chị T5 trông coi bị mất số tiền khoảng 12.000.000 đồng. Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh. Qua xác minh rà soát các đối tượng có biểu hiện nghi vấn trộm cắp tài sản trên địa bàn thị trấn N và các địa bàn lân cận, Cơ quan điều tra xác định Lưu Tuấn L, sinh năm 2001 là đối tượng đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, mới chấp hành xong án phạt tù, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã triệu tập đến làm việc. Quá trình đấu tranh L thừa nhận trộm cắp 12.680.000 đồng tại cửa hàng điện dân dụng Bích Hằng đêm ngày 23/3/3024, ngày 25/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lưu Tuấn L. Quá trình giữ người, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ trên người của L:

  • - Trong quần số tiền 12.500.0000 đồng.
  • - Túi quần phía sau bên phải 01 chiếc điện thoại Oppo F11, có ốp lưng viền màu hồng, Imeil: 869035040559854; Imei2: 869035040559847, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình có vết nứt.
  • - Túi quần phía sau bên trái 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus, I: 353820085777344, lắp 01 sim, trên sim có các số: “89840 48000 93048 7946", điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt vỡ, ốp lưng màu nâu.
  • - 01 bộ dây sạc và củ sạc điện thoại loại 20W màu trắng, cũ đã qua sử dụng.

Cùng ngày Cơ quan điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Tuấn L tại thôn C, xã A, huyện T nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án, khám xét chỗ ở tại Phố T, xã L, huyện T thu giữ 01 chiếc xe đạp màu xanh nước biển, khung xe có chữ “VIỆT HÙNG” nền màu trắng. Tại Cơ quan điều tra Lưu Tuấn L khai nhận do không có tiền ăn tiêu đã nảy sinh ý định vào nhà dân trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu, trong thời gian từ ngày 02/3/2024 đến ngày 23/3/2024, Lưu Tuấn L đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T, tỉnh Bắc Giang cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, Lưu Tuấn L đi bộ từ nhà bà Khổng Thị T1 là mẹ đẻ đến khu vực thị trấn N xem nhà ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 02/3/2024, L đến khu vực nhà ông Nguyễn Văn C, thấy trên tầng 4 nhà ông C đèn vẫn sáng, không có cửa, có thể trèo lên qua đường lan can, L bám vào trụ cổng nhà ông Đinh Ngọc T6 ở cạnh nhà ông C trèo lên tầng 2 nhà ông T6, sau đó men theo đường ban công đi sang tầng 2 nhà ông C. L dùng tay bám vào 3 thanh kim loại dựng nối từ tầng 3 lên tầng 4 và trèo lên tầng 4 nhà ông C rồi đột nhập vào bên trong nhà, theo cầu thang xuống tầng 3 mở cửa vào phòng chị Nguyễn Phương A. Khi vào phòng, L thấy chị Phương A đang ngủ trên giường, thấy 01 chiếc ví đặt trên bàn học, L lấy toàn bộ số tiền trong ví đút vào túi quần, sau đó thấy tại giường ngủ có 01 chiếc điện thoại Iphone X màu đen đang cắm dây sạc, L rút dây sạc và lấy chiếc điện thoại Iphone X tháo sim để phía sau ốp lưng điện thoại nhằm tránh bị phát hiện, rồi đút điện thoại vào túi quần đi lên tầng 3 mở cửa ban công trèo theo lối đã vào xuống đất đi về. Khi về nhà L bỏ tiền ra đếm được 2.000.000 đồng. Khoảng mấy 10 giờ ngày 21/3/2024, L đem chiếc điện thoại Iphone X trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại Phúc Hậu của anh Nguyễn Đức H3 ở tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T bán chiếc điện thoại trên cho anh H3 được 1.500.000 đồng. Số tiền trộm cắp và tiền bán điện thoại trộm cắp L đã ăn tiêu hết.

Vụ thứ 2: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/3/2024, Lưu Tuấn L đi xe đạp màu xanh mang theo tua vít từ Phố Thễ, Lan G đến cửa hàng T8 của gia đình chị Nguyễn Thùy N1 ở thôn L, xã Đ, quan sát thấy trên tầng 2 cửa hàng M1, không có chấn song, L trèo lên biển quảng cáo của cửa hàng, đu người sang trèo vào cửa sổ tầng 2 đột nhập vào bên trong nhà, chui người qua ô thoáng cầu thang xuống tầng 1, đi tới quầy bán hàng, mở ngăn kéo lấy hết tiền trong ngăn kéo đút vào túi quần, phát hiện bên phải quầy bán hàng có 01 con lợn đất màu đỏ, L cầm theo con lợn đất đi lên tầng 2 theo lối đã vào, khi đến góc nhà tầng 2 dùng tua vít mang theo đập vỡ con lợn đất lấy toàn bộ số tiền vào túi quần rồi trèo xuống tầng 1, sau đó đi xe đạp về nhà ở Phố T, L, L đếm được số tiền trộm cắp là 6.000.000 đồng, số tiền trộm cắp được L khai đã ăn tiêu hết.

Vụ thứ 3: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/3/2024, Lưu Tuấn L đi bộ từ quán Internet gần trường Trung học phổ thông thị trấn N2 ra khu vực tổ dân phố L, thị trấn N mục đích tìm nhà nào sơ hở đột nhập vào nhà trộm cắp, L quan sát thấy tầng 2 của quán cà phê Zin’n của anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1990, ở tổ dân phố T, thị trấn N chỉ lợp mái, không có cửa nên L trèo lên cột điện đối diện trường Tiểu học cơ sở thị trấn N2, leo lên ban công tầng 2 của dãy nhà dân, men theo lối ban công đến tầng 2 của quán C1, L đi vào bên trong quán rồi L đi xuống quầy bán hàng ở tầng 1 mở ngăn kéo bàn thu ngân lấy toàn bộ số tiền, do có ánh sáng của điện đường nên L đếm tiền được 300.000 đồng, sau đó đút tiền vào trong túi quần. Trộm cắp xong L trèo lên ban công quán cà phê Zin’n đi theo đường ban công của dãy nhà dân đến vị trí tầng hai nhà anh Nguyễn Viết Q, sinh năm 1992 ở tổ dân phố L, thị trấn N, L đứng lên đỉnh trụ kim loại lan can tầng 2 của nhà anh Q rồi dùng tay bám vào sàn tầng 3 đu người rồi trèo lên tầng 3 của nhà anh Q và nằm ngủ lại đây.

Vụ thứ 4: Khoảng hơn 12 giờ ngày 22/3/2024, L ngủ tại ban công tầng 3 nhà anh Nguyễn Viết Q dậy, L thấy cửa vào phòng tầng 3 là cửa đẩy nhôm kính có khe ở giữa hai cánh cửa rộng khoảng 10 cm, L dùng tay đẩy mạnh hai cánh cửa ra hai bên tạo khe hở khoảng 30 cm, L chui qua khe nhưng không chui lọt nên L cởi quần áo ngoài ra (số tiền 300.000 đ vẫn ở trong túi quần đã cởi ra), L chỉ mặc quần đùi, áo cộc chui lọt qua khe cửa vào bên trong phòng tầng 3 nhà anh Q, tìm trên tầng 3 không có tài sản gì lấy được nên đi theo cầu thang xuống tầng 1, đến bàn quầy bán hàng nhà anh Q mở ngăn kéo của bàn quầy bán hàng thấy có 10.000 đồng và 01 bộ sạc điện thoại Iphone màu trắng ở trong ngăn bàn, lấy 10.000 đồng và bộ sạc điện thoại, định cậy tủ hàng đối diện với bàn quầy thì bị chị Nguyễn Thị M, là vợ anh Q đi từ tầng 2 xuống phát hiện, L mở cửa nhà ở tầng 1 bỏ chạy về phía khu đô thị C, thị trấn N trèo vào một nhà người dân thì bị chủ nhà phát hiện giữ lại, chủ nhà hỏi tên tuổi thì L nói dối tên T7, sinh năm 2002 nhà ở thôn B, xã A, bố mẹ chết hết không có người thân, sau đó chủ nhà tha cho L.

Vụ thứ 5: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/3/2024, L đi bộ từ khu vực nhà hoang ở xã A đến khu vực đối diện cổng trường Trung học cơ sở thị trấn N2 mục đích để trèo lên vị trí tầng 3 nhà anh Q để tìm lại bộ quần áo L đã cởi ra, bên trong có 300.000 đồng trộm từ quán C1 nhưng không tìm thấy nên trèo xuống theo lối cũ. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 23/3/2024 L đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn C là nhà đã trộm cắp chiếc điện thoại Iphone X, L trèo lên ban công tầng 4 theo lối đã đột nhập trộm cắp ngày 02/3/2024, thấy cửa phòng tầng 4 đóng nhưng không khóa, mở cửa phòng tầng 4 rồi đi xuống tầng 3 vào phòng ngủ của chị Nguyễn Phương A thấy chiếc điện thoại Oppo F11 màu xanh ở trên giường, L lấy chiếc điện thoại rồi đút vào túi quần rồi trèo ra ngoài qua lỗi cũ. Để tránh bị phát hiện L đã tháo sim điện thoại để sau ốp điện thoại rồi đi bộ đến chân cột đèn giao thông ở ngã tư thị trấn N ngủ lại đây. Sau khi phát hiện tài sản bị mất, ngày 24/3/2024, chị Nguyễn Phương A đã có đơn trình báo Cơ quan điều tra về việc chị bị kẻ gian trộm cắp tài sản vào ngày 02/3/2024 và ngày 23/3/2024.

Vụ thứ sáu: Khoảng 04 giờ 00 phút sáng ngày 23/3/2024, Lưu Tuấn L ngủ dậy và trèo lên cột đèn tín hiệu giao thông rồi trèo sang ban công tầng 2 cửa hàng bán đồ điện dân dụng Bích Hằng của gia đình bà Công Thị H1 ở Tổ dân phố T, thị trấn N thuê chị Trần Thị T5 quản lý bán hàng (cửa hàng chỉ bán hàng ban ngày, buổi tối đóng cửa không có người trông coi). Tầng 2 cửa hàng không có cánh cửa nên lấy miếng tôn dựng ở ngoài hành lang mang vào rồi nằm lên miếng tôn ngủ, tại đây L cởi bỏ 01 chiếc quần vải màu xanh, khoảng 22 giờ ngày 23/3/2024, L đi qua cầu thang xuống tầng 1 của cửa hàng, thấy có phòng ở tầng 1 là gian bán hàng đồ điện, thấy trong chiếc túi đựng đồ treo trên tường có phong bì và một chiếc túi vải màu đỏ để chìa khoá, bóc phong bì thấy có 300.000 đồng đút vào túi, sau đó lấy chìa khóa két trong túi vải đỏ mở két sắt đặt tại gian bán hàng thì mở được, bên trong két sắt có tiền, L lấy toàn bộ số tiền trong két đút vào túi quần, sau đó trèo ra ngoài qua lối cũ đi về, khi về đến nhà bỏ tiền trộm cắp ra đếm được 12.680.000 đồng. L đã ăn tiêu cá nhân hết số tiền 180.000 đồng, số tiền còn lại đút ở túi quần, sau đó bị Cơ quan điều tra thu giữ số tiền trên.

Ngày 24/3/2024, ông Nguyễn Văn C giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T: 01 đĩa DVD có chữ “CAM PHƯƠNG ANH” bên trong có 01 file video tên “CAM NHÀ PHƯƠNG ANH” dung lượng 1,01 MB ghi lại hình ảnh đối tượng liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản của con gái ông C là chị Nguyễn Phương A vào ngày 02/3/2024.

Ngày 04/4/2024, chị Nguyễn Thùy N1 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T: 01 đĩa DVD màu vàng, trên đĩa có ghi chữ “CAM MINIMART” bên trong lưu trữ 05 file video trích xuất từ camera giám sát lắp tại quầy bán hàng của cửa hàng tạp hóa MINIMART của chị N1 có ghi lại hình ảnh đối tượng đột nhập vào nhà chị trộm cắp tài sản ngày 08/3/2024.

Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định các file video trích xuất từ camera giám sát tạm giữ trong vụ án. Tại Kết luận giám định số: 908/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 file video lưu trữ trong 02 đĩa DVD-R gửi giám định. Trích xuất được 16 hình ảnh thể hiện diễn biến của vụ việc có trong các file video gửi giám định.

Ngày 08/4/2024, Cơ quan điều tra ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T điện thoại mà L đã trộm cắp:

Tại Kết luận định giá tài sản số: 15/KL-ĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • 01 chiếc điện thoại Iphone X màu đen bản 64 GB, cũ đã qua sử dụng, lắp sim số 0338.346.760 trị giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng);
  • 01 chiếc điện thoại Oppo F11 màu xanh, bản 64GB cũ đã qua sử dụng, lắp sim số 0338.346.760 trị giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng);
  • 01 chiếc ốp lưng điện thoại Iphone X bằng nhựa cũ đã qua sử dụng trị giá 10.000đ (mười nghìn đồng);
  • 01 chiếc ốp lưng điện thoại Oppo F11 bằng nhựa, viền màu hồng cũ đã qua sử dụng trị giá 10.000đ (mười nghìn đồng);
  • 01 hộp tiết kiệm hình con lợn bằng đất, màu đỏ, cũ đã qua sử dụng trị giá 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng);
  • 01 bộ của sạc 2 và dây sạc điện thoại (loại sạc Iphone) màu trắng cũ đã qua sử dụng trị giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 17/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Lưu Tuấn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Tuấn L từ 01 (một) năm 10 (mười) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/3/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

  • - Buộc bị cáo Lưu Tuấn L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Phương A số tiền 5.510.000 đồng (Năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng).
  • - Buộc bị cáo Lưu Tuấn L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả bị cáo L 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, I: 353820085777344, lắp 01 sim, trên sim có các số: “89840 48000 93048 7946”, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả bị cáo L 01 chiếc quần vải màu đen, hai bên ống quần kẻ màu trắng có chữ “adidas”; 01 chiếc áo khoác da màu đen, ống tay áo có đường kẻ màu trắng, phần cổ áo gắn thanh kim loại có chữ “newsever”; 01 chiếc áo phông màu trắng trước ngực có chữ “D2” màu đen; 01 chiếc quần vải màu xanh (dạng quần jean) tại vị trí cạp quần buộc mảnh nilon màu trắng; 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, có các họa tiết LV in chìm; 01 chiếc quần nỉ loại quần dài màu đen, cạp quần có hai dây màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu trắng, cỡ 45; 01 chiếc áo cộc tay màu đen, hai vai áo có sọc kẻ trắng; 01 chiếc quần đùi màu đen có sọc kẻ trắng hai bên ống quần.

Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Lưu Tuấn L trình bày: Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Bị hại chị Nguyễn Phương A, anh Nguyễn Đức T3, chị Dương Thị Huyền T4, anh Nguyễn Viết Q, chị Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị N, ông Thân Thanh H2, bà Công Thị H1, ông Nguyễn Văn B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T5, bà Khổng Thị T1, anh Nguyễn Đức H3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, tài sản bị mất một phần đã được nhận lại, do vậy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Lưu Tuấn L thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 02/3/2024 đến ngày 23/3/2024, bị cáo đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị trấn N; địa bàn xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Phương A 02 lần gồm 2.000.000 đồng tiền mặt và 02 chiếc điện thoại tổng tài sản 02 lần trộm cắp là 7.220.000 đồng, trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thùy N1 là 6.000.000 đồng tiền mặt, trộm cắp của gia đình anh Nguyễn Đức T3 300.000 đồng tiền mặt, trộm cắp của gia đình anh Nguyễn Viết Q 10.000 đồng và 01 bộ củ sạc 20W + dây sạc điện thoại trị giá 50.000 đồng, tổng cộng là 60.000 đồng, trộm cắp của gia đình bà Công Thị H1 là 12.680.000 đồng tiền mặt, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 26.260.000 đồng. Căn cứ vào giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Lưu Tuấn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa được xoá án tích, trong một thời gian ngắn khoảng hơn 20 ngày bị cáo thực hiện liên tiếp 06 lần trộm cắp tài sản, tuy nhiên đây không phải nguồn sống chính của bị cáo nhưng bị cáo phạm tội nhiều lần, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi trên của bị cáo Lưu Tuấn L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Xét thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt. Hình phạt của bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, Hội đồng xét xử miễn phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với anh Nguyễn Đức H3 là người mua của bị cáo chiếc điện thoại Iphone X màu đen, nhưng anh H3 đã bán chiếc điện thoại này ngay trong ngày 21/3/2024 cho một người khách không quen biết. Khi mua chiếc điện thoại anh H3 không biết chiếc điện thoại trên là do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý anh Nguyễn Đức H3 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Đối với chiếc tua vít bị cáo mang theo sử dụng trộm cắp tài sản, bị cáo đã làm rơi nhưng không biết ở vị trí nào. Các sim điện thoại và chiếc ốp lưng điện thoại Iphone X trộm cắp được bị cáo đã tháo và vứt đi nhưng không rõ vứt ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với số tiền 12.500.000 đồng thu giữ khi bắt bị cáo, quá trình điều tra xác định là tiền trộm cắp tại cửa hàng điện dân dụng B, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Công Thị H1 nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ số tiền trên cho bà H1.

Đối với chiếc điện thoại Oppo F11, có ốp lưng viền màu hồng, Imeil: 869035040559854; Imei2: 869035040559847, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình có vết nứt, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản của chị Nguyễn Phương A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Phương A.

Đối với 01 bộ dây sạc và củ sạc điện thoại loại 20W màu trắng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra xác định bộ dây sạc điện thoại là của anh Nguyễn Viết Q nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Q.

Đối với số tiền 300.000 đồng là tiền bị cáo trộm cắp của Nguyễn Đức T3 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T3.

Đối với 01 hộp đựng tiền tiết kiệm hình con lợn bằng đất màu đỏ bị vỡ phần lưng, các mặt vỡ một mặt màu đỏ một mặt có màu trắng là hộp đựng tiền tiết kiệm của chị Nguyễn Thùy N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị N1.

Đối với chiếc xe đạp màu xanh nước biển, khung xe có chữ “VIET HUNG” nền màu trắng, quá trình điều tra đã xác định đây là tài sản của bà Khổng Thị T1, mẹ của bị cáo. Bà T1 không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại chiếc xe đạp trên cho bà T1.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Phương A yêu cầu bị cáo Lưu Tuấn L phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng và bồi thường số tiền tương ứng với giá trị chiếc điện thoại Iphone X và ốp lưng là 3.510.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận số tiền và tài sản bị cáo đã trộm cắp được của chị Phương A và nhất trí bồi thường cho bị hại. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Phương A số tiền 5.510.000 đồng.

Bị hại Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo Lưu Tuấn L phải bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận số tiền bị cáo đã trộm cắp được của chị N và nhất trí bồi thường cho bị hại. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị N số tiền 6.000.000 đồng.

Các bị hại anh Nguyễn Đức T3, anh Nguyễn Viết Q, bà Công Thị H1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có ý kiến bị cáo bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, I: 353820085777344, lắp 01 sim, trên sim có các số: “89840 48000 93048 7946”, điện thoại cũ là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo L nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 chiếc quần vải màu đen, hai bên ống quần kẻ màu trắng có chữ “adidas”; 01 chiếc áo khoác da màu đen, ống tay áo có đường kẻ màu trắng, phần cổ áo gắn thanh kim loại có chữ “newsever”; 01 chiếc áo phông màu trắng trước ngực có chữ “D2” màu đen; 01 chiếc quần vải màu xanh (dạng quần jean) tại vị trí cạp quần buộc mảnh nilon màu trắng; 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, có các họa tiết LV in chìm; 01 chiếc quần nỉ loại quần dài màu đen, cạp quần có hai dây màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu trắng, cỡ 45; 01 chiếc áo cộc tay màu đen, hai vai áo có sọc kẻ trắng; 01 chiếc quần đùi màu đen có sọc kẻ trắng hai bên ống quần. Tất cả đều cũ đã qua sử dụng là quần áo của bị cáo Lưu Tuấn L mặc khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản, tại phiên toà bị cáo đề nghị được nhận lại các tài sản này cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo Lưu Tuấn L thuộc đối tượng hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. 1. Xử phạt: Bị cáo Lưu Tuấn L 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 25/3/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lưu Tuấn L.

  2. 2. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Buộc bị cáo Lưu Tuấn L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Phương A số tiền 5.510.000 đồng (Năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng).
    • - Buộc bị cáo Lưu Tuấn L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. 3. Về vật chứng vụ án:

    Trả bị cáo L 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, I: 353820085777344, lắp 01 sim, trên sim có các số: “89840 48000 93048 7946”, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    Trả bị cáo L 01 chiếc quần vải màu đen, hai bên ống quần kẻ màu trắng có chữ “adidas”; 01 chiếc áo khoác da màu đen, ống tay áo có đường kẻ màu trắng, phần cổ áo gắn thanh kim loại có chữ “newsever”; 01 chiếc áo phông màu trắng trước ngực có chữ “D2” màu đen; 01 chiếc quần vải màu xanh (dạng quần jean) tại vị trí cạp quần buộc mảnh nilon màu trắng; 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, có các họa tiết LV in chìm; 01 chiếc quần nỉ loại quần dài màu đen, cạp quần có hai dây màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu trắng, cỡ 45; 01 chiếc áo cộc tay màu đen, hai vai áo có sọc kẻ trắng; 01 chiếc quần đùi màu đen có sọc kẻ trắng hai bên ống quần.

    (Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên)

  4. 4. Về án phí: Bị cáo Lưu Tuấn L được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (thuộc hộ nghèo).
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ ngày 02/3/2024 đến ngày 23/3/2024, bị cáo đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị trấn N; địa bàn xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Phương A 02 lần gồm 2.000.000 đồng tiền mặt và 02 chiếc điện thoại tổng tài sản 02 lần trộm cắp là 7.220.000 đồng, trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thùy N1 là 6.000.000 đồng tiền mặt, trộm cắp của gia đình anh Nguyễn Đức T3 300.000 đồng tiền mặt, trộm cắp của gia đình anh Nguyễn Viết Q 10.000 đồng và 01 bộ củ sạc 20W + dây sạc điện thoại trị giá 50.000 đồng, tổng cộng là 60.000 đồng, trộm cắp của gia đình bà Công Thị H1 là 12.680.000 đồng tiền mặt, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 26.260.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger