|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14/6/2024
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa
Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Từ Thanh Hải
2/ Ông Lê Văn Thừa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp: “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 137/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ
- Bị đơn: Chị Thái Thị Bích T, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H và chị Thái Thị Bích T tự quen biết nhau vào năm 2001, sau thời gian tìm hiểu được sự thống nhất của gia đình nên anh H và chị T quyết định tiến tới hôn nhân vào năm 2002, thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ vào năm 2002. Nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân là do vợ chồng không phù hợp với nhau về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau khiến cho đời sống hôn nhân ngày càng mâu thuẫn, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nên đã ly thân nhiều năm nay. Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, nhận thấy không thể kéo dài quan hệ hôn nhân nên anh Nguyễn Thanh H đề nghị Tòa án cho ly hôn với chị Thái Thị Bích T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh H và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Phú V, sinh ngày 20/7/2002, Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 18/9/2004, các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Về phần tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
2. Bị đơn chị Thái Thị Bích T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Thái Thị Bích T và anh Nguyễn Thanh H là tự nguyện, hai bên tự tìm hiểu được sự thống nhất của gia đình nên chị T và anh H quyết định tiến tới hôn nhân vào năm 2001, đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2002. Quá trình chung sống anh Nguyễn Thanh H không chung thủy trong hôn nhân, anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài từ đó vợ chồng bất hòa trong cuộc sống vợ chồng. Hiện tại chị T cũng không còn tình cảm gì với anh H nhưng không đồng ý ly hôn vì chưa giải quyết dứt điểm tài sản chung vợ chồng. Đề nghị anh H phải giải quyết dứt điểm về tài sản chung vợ chồng thì chị T sẽ đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phú V, sinh ngày 20/7/2002, Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 18/9/2004, các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Về chia tài sản chung: Vợ chồng có mua 02 công đất lúa của chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Thanh N1 là chị ruột của anh H. Việc mua bán chỉ thỏa thuận miệng không có giấy tờ gì chứng minh, nhưng trên thực tế thì anh H đã canh tác mấy năm nay. Nay chị T yêu cầu chia đôi mỗi người một công tương đương diện tích 1000m². Trường hợp anh H thỏa thuận bằng văn bản để cho các con thì chị T cũng đồng ý và thống nhất ly hôn.
Về nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về Tố tụng:
[1.1] Anh Nguyễn Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét cho ly hôn với chị Thái Thị Bích T, xét đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Chị Thái Thị Bích T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị T.
[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Thanh H và chị Thái Thị Bích T có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân này là hợp pháp khi phát sinh tranh chấp Toà án xem xét giải quyết theo thủ tục chung.
[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Thanh H và chị Thái Thị Bích T: Theo trình bày của anh H do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, không có sự đồng cảm và chăm sóc lẫn nhau. Về phía chị T cho rằng do anh H không chung thủy trong quan hệ vợ chồng từ đó hôn nhân không hạnh phúc. Xét trình bày của các đương sự về quá trình chung sống cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H đã có sự rạn nứt, thời gian ly thân kéo dài không có biện pháp hàn gắn, cả 02 cũng xác định không còn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ mâu thuẫn trong hôn nhân là trầm trọng. Hội đồng xét xử nhận thấy không thể hàn gắn nên chấp nhận cho anh Nguyễn Thanh H được ly hôn với chị Thái Thị Bích T.
[4] Về nuôi con chung: Xét các con chung của chị T và anh H tên Nguyễn Phú V, sinh ngày 20/7/2002, Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 18/9/2004 đã đến tuổi trưởng thành. Do vậy, Tòa án không xem xét về nuôi con chung.
[5] Về chia tài sản chung: Chị Thái Thị Bích T cho rằng vợ chồng có mua 02 công đất lúa của chị ruột anh H nên đề nghị chia đôi. Về phía anh H cho rằng 02 công đất lúa mà anh H đang canh tác là do anh thuê của vợ chồng chị Nguyễn Thị Đ, anh Nguyễn Thanh N1 trả tiền hàng năm, trước đây vợ chồng anh H cũng có ý định mua 02 công đất này nhưng chưa thực hiện. Về phía chị Đ và anh N1 cũng xác định 02 công đất lúa mà anh H đang canh tác là do vợ chồng chị Đ cho thuê hàng năm, vợ chồng chị Đ cũng có ý định bán cho vợ chồng anh H nhưng các bên chưa thống nhất, nên phần đất này vẫn thuộc chủ quyền của vợ chồng chị Đ. Xét đương sự yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng, nên Tòa án không có cơ sở xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu chị T có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chị Đ, anh N1 thì khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.
[8] Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, tòa án không xem xét.
[9] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có hiệu lực 01.01.2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc án phí, lệ phí.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh H về việc xin ly hôn với chị Thái Thị Bích T.
- - Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh H với chị Thái Thị Bích T.
- - Về nuôi con chung: Tòa án không xem xét.
- - Về chia tài sản chung: Tòa án không xem xét.
- - Về nghĩa vụ chung: Toà án không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh H phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp với số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0007988 ngày 08/4/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Anh H đã thực hiện xong.
3. Về quyền kháng cáo: Tuyên án công khai các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đăng Khoa |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: do mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn nên các đương ly hôn
