Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 14-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Đặng Văn Đê

2. Bà Vũ Thị Phương Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Đ- Kiểm sát viên.

Từ ngày 08/5/2024 đến 14/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh năm: 1997 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Vợ là Nguyễn Thị Tú Q và 01 con sinh năm 2020. Con ông Trần Thanh T1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt

- Bị hại: Bà Võ Thị D, sinh năm 1987(Chủ hộ kinh doanh cửa hàng đặc sản Đà Lạt S). HKTT: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Số E N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Có mặt

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1986. HKTT: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: Số E N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Minh K, sinh năm 1986. HKTT: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay:Số E N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt
  2. Vũ Thị Thu H1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
  3. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990. Nơi cư trú:Tổ F, khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
  4. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1996. Nơi cư trú:ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  5. Nguyễn Lê Hùng L, sinh năm 1996. Nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
  6. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
  7. Trần Minh P, sinh năm 2001. Nơi cư trú: thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
  8. Nguyễn Thị H2, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh T làm việc cho ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1986, HKTT: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang kinh doanh vận tải với tên là "Dịch vụ vận tải hàng hóa Bảo Bảo V" từ tháng 10 năm 2022. Thời gian đầu, ông K giao cho T nhiệm vụ làm phụ xe chuyển hàng các chuyến xe liên tỉnh và kí hợp đồng lao động với Trần Thanh T. Đến tháng 7/2023, do yêu cầu công việc nên ông K chuyển T về làm nhân viên trực tại trạm nhận và trả hàng của dịch vụ vận tải Bảo Bảo V. Ông K giao nhiệm vụ bằng miệng cho Trần Thanh T gồm: nhận hàng từ khách đến gửi hàng và trả hàng hóa cho khách đến nhận hàng; nhận tiền vận tải hàng hóa và tiền thu hộ của khách hàng từ phụ xe và tài xế của dịch vụ vận tải Bảo Bảo V; giao tiền vận tải nhận được từ phụ xe và tài xế cho ông K - chủ dịch vụ vận tải Bảo Bảo V và trả tiền thu hộ cho khách hàng của vận tải Bảo Bảo V. Đối với tiền thu hộ của khách hàng, T nhận và có quyền trả lại cho khách hàng đã sử dụng dịch vụ; đối với tiền hàng hóa và tiền vận tải của công ty B, đến cuối ngày hoặc qua ngày hôm sau, T có trách nhiệm đến nhà ông K tại số E N, phường P, thành phố B để giao lại cho ông K cùng hóa đơn, chứng từ. Sau khi không liên lạc

được với T, ông K kiểm tra chứng từ hóa đơn và liên hệ với các khách hàng nhờ thu hộ tiền thì được biết T đã chiếm đoạt của ông K số tiền 50.712.000 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm mười hai ngàn đồng) tiền thu hộ cho khách hàng và 41.255.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng) tiền vận tải hàng hóa của ông K từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023.

Doanh nghiệp do ông K quản lý có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh "Hộ kinh doanh cửa hàng đặc sản Đà Lạt S" do bà Võ Thị D - SN: 1987 - HKTT: ấp L, xã X, huyện C là vợ ông Nguyễn Minh K đứng tên chủ hộ kinh doanh. Ông K trình bày do hộ kinh doanh của vợ chồng ông K – bà D sở hữu kinh doanh nhiều lĩnh vực, nên phần kinh doanh dịch vụ vận tải, ông K để tên biển hiệu là "dịch vụ vận tải hàng hóa Bảo Bảo V".

Tại CQĐT Công an T, T khai nhận: Từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023, lợi dụng việc ông K không có mặt tại thành phố B, Trần Thanh T sau khi nhận được tiền thu hộ và tiền vận tải hàng hóa từ các lái xe và phụ xe của "Dịch vụ vận tải Bảo Bảo V" với tổng số tiền 91.967.000 đồng (Chín mươi mốt triệu chín trăm sáu mươi bảy ngàn đồng), T đã không liên hệ với ông K để giao lại số tiền này mà tự ý chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và đánh bạc bằng hình thức cá cược đá gà online trên mạng internet. Tuy nhiên, do thua bạc nên không có khả năng trả lại số tiền đã chiếm đoạt và lo sợ việc lấy tiền bị phát hiện nên ngày 18/8/2023 T đã bỏ lên thành phố Hồ Chí Minh ở nhờ tại nhà một người bạn (chưa rõ lai lịch), đồng thời vứt sim điện thoại 0843.543.xxx đang sử dụng, cắt đứt liên lạc với người nhà. Sau đó một tháng, khi T liên lạc về gia đình thì biết bản thân được Cơ quan Công an triệu tập nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trình diện làm việc.

Đối với số tiền đã chiếm đoạt của ông K, Trần Thanh T khai nhận: đã nhờ bà Vũ Thị Thu H1 (sinh năm 1987,HKTT: tổ A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) - chủ tiệm tạp hóa gần trạm nhận và trả hàng của dịch vụ Bảo Bảo V để chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của T tại ngân hàng N1 số tài khoản 67010001142264 với số tiền 76.700.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu bảy trăm ngàn đồng), sau đó T sử dụng số tiền này vào việc cá độ đá gà online trên mạng internet dẫn đến thua hết số tiền trên. Số tiền chiếm đoạt còn lại, T đã tiêu xài cá nhân hết, hiện không có khả năng khắc phục hậu quả. Bà Vũ Thị Thu H1 khẳng định bản thân không biết số tiền được T nhờ chuyển tiền là tiền T chiếm đoạt tài sản của "dịch vụ vận tải Bảo Bảo V".

Làm việc với những người có liên quan là các tài xế và phụ xe của "Dịch vụ vận tải Bảo Bảo V" xác định:

- Nguyễn Văn T5, sinh năm 1990, HKTT: tổ F, khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận đã đưa cho Trần Thanh T số tiền 10.812.000 đồng (Mười triệu tám trăm mười hai ngàn đồng) tiền hàng và tiền công nợ, nhưng T chưa giao lại cho ông Nguyễn Minh K;

- Nguyễn Văn T3, sinh năm 1996, HKTT: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang xác nhận đã đưa cho Trần Thanh T số tiền 24.293.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm chín mươi ba ngàn đồng) tiền hàng và tiền thu hộ của khách hàng, nhưng T chưa giao lại cho ông Nguyễn Minh K;

- Nguyễn Lê Hùng L1, sinh năm 1996, HKTT: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận đã đưa cho Trần Thanh T số tiền 7.290.000 đồng (Bảy triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng) gồm 3.690.000 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng) tiền hàng và 3.600.000 đồng (Ba triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng) tiền thu hộ của khách hàng, nhưng T chưa giao lại cho ông Nguyễn Minh K;

Làm việc với đại diện các khách hàng của dịch vụ Bảo Bảo V bị Trần Thanh T chiếm đoạt tiền thu hộ, xác định:

- Nguyễn Văn T6, sinh năm 1992, HKTT: ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là đại diện của công ty TNHH T7 xác nhận: từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023 công ty T7 có sử dụng dịch vụ vận tải Bảo Bảo Vi để vận chuyển hàng hóa và thu hộ tiền hàng cho công ty T7, với tổng số tiền 44.912.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu chín trăm mười hai ngàn đồng), sau đó ông T6 được ông Nguyễn Minh K – chủ công ty B thông báo về việc số tiền thu hộ của công ty T7 bị nhân viên tên Trần Thanh T chiếm đoạt, bỏ trốn. Hiện công ty T7 đã nhận đủ số tiền 44.912.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu chín trăm mười hai ngàn đồng) do ông Nguyễn Minh K bồi thường.

- Trần Minh P, sinh năm 2001, HKTT: thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là đại diện của công ty TNHH T8 xác nhận: ngày 15/8/2023 công ty T8 có sử dụng dịch vụ vận tải của công ty B để thu hộ 01 (một) đơn hàng có giá trị 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng), sau đó công ty T8 được ông Nguyễn Minh K – chủ công ty B thông báo về việc số tiền thu hộ của công ty T8 bị nhân viên tên Trần Thanh T chiếm đoạt, bỏ trốn. Đến ngày 21/8/2023, công ty T8 đã nhận đủ số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng) do ông Nguyễn Minh K bồi thường.

Ông Nguyễn Minh K cũng trình bày thêm về việc Trần Thanh T là người trực tiếp nhận và giữ tiền tiền công nợ của khu vực thành phố B cho ông K, và cụ thể số tiền T đã chiếm đoạt đối với số tiền công nợ này là 2.460.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi ngàn đồng) từ ngày 15/8/2023 đến ngày 18/8/2023 gồm: 1.010.000 đồng (Một triệu không trăm mười ngàn đồng) theo tờ phơi tiền hàng ngày 15/8/2023, 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi ngàn đồng) theo tờ phơi tiền hàng ngày 15/8/2023 và 830.000 đồng (Tám trăm ba mươi ngàn đồng) theo tờ phơi tiền hàng ngày 15/8/2023, và đều là theo tờ phơi tiền hàng của xe ô tô biển số 72H- 013.86. Đối với nội dung này, Trần Thanh T đã thừa nhận bản thân đã chiếm đoạt như theo ông K trình bày.

Đối với lời khai của Trần Thanh T về việc chuyển khoản vào tài khoản chỉ định của trang web đánh bạc để nạp tiền đánh bạc là tài khoản ngân hàng V1 số tài khoản 1037892319 với tên chủ tài khoản là Đào Thị N, Cơ quan CSĐT đã yêu cầu Ngân hàng V1 cung cấp thông tin chủ tài khoản nhận chuyển khoản với nội dung “0843543292” do Trần Thanh T chuyển từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023. Ngân hàng V1 xác định chủ tài khoản nhận chuyển khoản với nội dung giao dịch “0843543292” từ tài khoản ngân hàng N1 số tài khoản 67010001142264 của Trần Thanh T từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023 là Đào Thị N, số CCCD: [...], HKTT: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Số điện thoại: 0869.756.xxx. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT

Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam xác minh, được biết: Bà Đào Thị N (có lai lịch như trên) khai nhận bản thân không có quen biết với Trần Thanh T, không sử dụng tài khoản ngân hàng số 1037892319 tại Ngân hàng V1 và không nhận chuyển khoản tiền từ tài khoản ngân hàng S tại ngân hàng N1 từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023, đồng thời bà N cũng không sử dụng số điện thoại 0869.756.xxx. Cơ quan CSĐT đã có Yêu cầu số 2607/YC-ĐTTH ngày 22/11/2023 đề nghị Phòng chăm sóc khách hàng V2 cung cấp thông tin cá nhân chủ thuê bao số điện thoại 0869.756.xxx, tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả phản hồi.

* Vật chứng hiện đang tạm giữ, xử lý vật chứng:

  • + Bản sao kê tài khoản ngân hàng N1 với số tài khoản 67010001142264 của ông T thể hiện giao dịch nộp/rút tiền vào tháng 8/2023;
  • + 06 (sáu) tờ giấy A4 thể hiện tiền thu hộ 3.600.000 đồng và 460.000 đồng tiền vận tải hàng hóa ngày 16/8/2023 (có chữ ký xác nhận của Nguyễn Minh K); 14 (mười bốn) tờ phiếu giao hàng và thu hộ tiền của công ty T7 (bản photo); 05 (năm) tờ phơi tiền hàng của dịch vụ vận tải Bảo Bảo V (bản photo); 01 (một) hóa đơn bán lẻ ngày 15/8/2023; 01 (một) thẻ nhớ Micro JVJ;
  • + Hồ sơ xin việc của Trần Thanh T gồm: 01 (một) đơn xin việc, 01 (một) đơn xác nhận không tiền án tiền sự, 01 (một) sơ yếu lý lịch và 01 (một) tờ lời chứng chứng thực chữ ký; 01 (một) hợp đồng lao động ngày 01/5/2022;
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, số kiểu máy: SM-A207F/DS, số sê-ri: R9AMA22XA0J, số IMEI: 353244114312686 (của Trần Thanh T), VKSND TP . Bà Rịa ra Quyết định chuyển vật chứng sang Chi cục THA dân sự TP.Bà rịa, bảo quản, chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự:

Võ Thị D yêu cầu Trần Thanh T bồi thường số tiền 91.967.000 đồng mà T đã chiếm đoạt, bị can T đồng ý bồi thường tuy nhiên đến nay chưa thực hiện việc bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSBR ngày 08-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị hại Võ Thị D xác nhận đã được bị cáo bồi thường 30.000.000đ, yêu cầu bị cáo Trần Thanh T bồi thường thêm 61.967.000đ, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thay đổi tội danh của bị cáo từ tội nặng hơn là “Tham ô tài sản” sang tội nhẹ hơn là “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị như sau: Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s,b khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 03 năm đến 04 năm tù.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy

A20s, số kiểu máy: SM-A207F/DS, số sê-ri: R9AMA22XA0J, số IMEI: 35324411431268

Tại phiên tòa, trong lời nói sau cùng bị cáo Trần Thanh T:Đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như kiểm sát viên kết luận, không có thắc mắc gì, bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho bị hại Võ Thị D số tiền là 61.967.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Tại phiên tòa Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Thanh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự là tội nhẹ hơn so với tội “Tham ô tài sản” quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự. Theo Điều 325 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

  2. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị các thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa có cơ sở xác định:

    Trong thời gian làm việc cho bà Võ Thị D- Chủ hộ kinh doanh cửa hàng đặc sản Đà Lạt S do ông Nguyễn Minh K (chồng bà Võ Thị D) là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của “Dịch vụ vận tải hàng hóa Bảo Bảo V”.

    Trần Thanh T được thuê làm việc từ tháng 10/2022. Thời gian đầu làm phụ xe chuyển hàng các chuyến xe liên tỉnh và ký hợp đồng lao động với Trần Thanh T. Đến tháng 7/2023 Trần Thanh T được chuyển làm nhân viên trực tại trạm nhận và trả hàng của dịch vụ vận tải Bảo Bảo V, giao nhiệm vụ bằng miệng cụ thể: Nhận hàng từ khách đến gửi hàng và trả hàng hóa cho khách đến nhận hàng; Nhận tiền vận tải hàng hóa và tiền thu hộ của khách hàng từ phụ xe và tài xế của dịch vụ vận tải Bảo Bảo V; Giao tiền vận tải nhận được từ phụ xe và tài xế cho chủ dịch vụ vận tải Bảo Bảo V và trả tiền thu hộ cho khách hàng của vận tải Bảo Bảo V

    Đối với tiền thu hộ của khách hàng, T nhận và có quyền trả lại cho khách hàng đã sử dụng dịch vụ; đối với tiền hàng hóa và tiền vận tải của Dịch vụ vận tải Bảo Bảo V, đến cuối ngày hoặc qua ngày hôm sau, T có trách nhiệm đến nhà ông K tại số E N, phường P, thành phố B để giao lại cho ông K cùng hóa đơn, chứng từ.

    Từ ngày 14/8/2023 đến ngày 18/8/2023 lợi dụng ông Nguyễn Minh K không có ở thành phố B, lợi dụng công việc và vị trí được giao. Trần Thanh T sau khi nhận tiền thu hộ và tiền vận tải hàng hòa từ các lái xe và phụ xe của “Dịch vụ vận tải Bảo Bảo V” với tổng số tiền là 91.967.000đ. Trần Thanh T không liên hệ trả lại số tiền này mà chiếm đoạt sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và đánh bạc bằng hình thức đá gà onlie trên mạng và không có khả năng trả lại tiền đã chiếm đoạt. Từ ngày 18/8/2023 Trần Thanh T lo sợ bị phát hiện đã bỏ lên thành phố Hồ Chí Minh ở nhờ nhà một người bạn(chưa rõ lai lịch), đồng thời vứt sim điện thoại, cắt đứt liên lạc với người nhà. Do vậy, có căn cứ xác định hành vi của Trần Thanh T đã thỏa mãn cấu thành của tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” .Tại phiên tòa Kiểm sát viên kết luật bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Theo quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án có thể xét xử bị cáo về tội khác nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo chiếm đoạt số tiền là 91.967.000đ(Chín mươi mốt triệu, chín trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Từ những căn cứ trên có sở xác định hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.

  3. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; hị hại xin giảm nhẹ hình phạt áp dụng điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh T đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền là 61.967.000đ. Do vậy, buộc bị cáo Trần Thanh T bồi thường thêm cho bị hại Võ Thị D số tiền 61.967.000đ.
  7. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước:01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, số kiểu máy: SM-A207F/DS, số sê-ri: R9AMA22XA0J, số IMEI: 35324411431268
  8. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
    • - Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự
    • - Bị cáo Trần Thanh T phải bồi thường thêm cho bị hại Võ Thị D số tiền là 61.967.000đ(Sáu mươi mốt triệu, chín trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, số kiểu máy: SM-A207F/DS, số sê-ri: R9AMA22XA0J, số IMEI: 35324411431268, đã cũ, màn hình bị bể.

    (Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08-4-2024)

  4. Án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.098.000đ(Ba triệu, không trăm chín mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Đối với người vắng mặt thời hạn 15 ngày tính từ ngày được tống đạt bản án).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh BR-VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Công an tỉnh BRVT(PV 06,PC 10)
  • - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Trọng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRần Thanh Trí-Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger