Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 49/2024/HS -ST

Ngày 13 - 9 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng và ông Nguyễn Tiến Bộ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST - HS ngày 29/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST - HS ngày 22/8/2024 và Thông báo hoãn phiên tòa số 17/TB - TA ngày 04/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn H, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nhân viên Trường Cao đẳng K1; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ Bùi Thị Nụ H2 và có 02 con ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 28/5/2024. Có mặt.
  2. Kiều Xuân B, sinh năm 2003, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn B, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Đình N và bà Nguyễn Thị Đ; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/11/2018 bị Công an huyện M xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 28/5/2024. Có mặt.
  3. Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1990, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Bùi Thị V; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 24/02/2024. Có mặt.
  4. Vương Tất C, sinh năm 1985, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Quang T1 và bà Trịnh Thị N2; có vợ Nguyễn Thị N3 và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 24/02/2024. Có mặt.
  5. Lê Thanh H3, sinh năm 1988, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị D; có vợ Ứng Thị M1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/02/2024. Có mặt.
  6. Nguyễn Bá T2, sinh năm 1984, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn H, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H4 và bà Bùi Thị K; có vợ Lê Thị H5 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/02/2019 bị Đồn Công an H9, Công an huyện M xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 24/02/2024. Có mặt.
  7. Bùi Văn H6, sinh năm 1990, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H7 (đã chết) và bà Đinh Thị N4; có vợ Kiều Thị T3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 15/02/2024, Nguyễn Văn H gọi điện cho Kiều Xuân B hẹn B đến nhà H ở thôn H, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội ăn cơm tối. Sau khi ăn cơm xong, B gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Bá T2 đến nhà H chơi. Đến Khoảng 21 giờ cùng ngày thì Nguyễn Bá T2, Vương Tất C, Nguyễn Văn Đ1, Bùi Văn H6 đến nhà H chơi, sau đó cả nhóm rủ nhau đánh bạc. Các đối tượng thống nhất hình thức đánh bạc chơi “Liêng” như sau: Khi chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, trước mỗi ván bài, người chơi bỏ số tiền 50.000 đồng vào chiếu bạc (gọi là tiền “Gà”). Sau đó người cầm bài chia cho mỗi người 03 quân bài, người chơi sẽ giấu kín bài của mình và bỏ tiền vào “Tố”. Người chia bài “Tố” đầu tiên, tiếp theo đến lần lượt theo chiều ngược kim đồng hồ đến người chơi tiếp theo, người nào thấy bài mình thua thì có thể không bỏ tiền vào “Tố” và thua ván đó. Số tiền “Tổ” tối thiểu là 50.000 đồng, tối đa 500.000 đồng. Ván bài kết thúc khi không còn ai bỏ tiền và “Tố”. Người thắng ván bài là người bỏ tiền vào “Tố” nhiều nhất và người này được hưởng toàn bộ số tiền “Tố” và tiền “Gà” mà những người chơi khác bỏ ra. Nếu có nhiều người bỏ số tiền “Tố” bằng nhau thì sẽ lật bài ra để so sánh. Bài “Sáp” là bài thắng “Liêng”, bài “Liêng” thắng bài có điểm, bài điểm cao thắng bài điểm thấp. Bài “Sáp” là trường hợp 03 quân bài có số giống nhau. Bài “Liêng” là trường hợp 03 quân bài có số liên tiếp nhau, khi 03 quân bài có số liên tiếp nhau và giống nhau về chất “Cơ”, “Rô”, “Nhép” hoặc “Bích” thì là “Liêng đồng hoa”. Bài có điểm là các trường hợp còn lại. Điểm của bài được tính bằng cách cộng các số của các quân bài lại (quân bài 10, J, Q, K tính là 0 điểm; quân bài A tính là 01 điểm và chữ số đơn vị của tổng các quân bài là điểm của bài; cao nhất là 09 điểm; thấp nhất là 0 điểm). Khi được “Sáp” thì được thêm 200.000 đồng, được “Liêng đồng hoa” thì được thêm 100.000 đồng của người khác chơi. Trước khi chơi bạc, H đưa cho B 32.000.000 đồng. Khi bắt đầu chơi, mỗi người chơi tự nguyện bỏ ra 200.000 đồng gọi là tiền thuốc nước, tất cả số tiền này đều để dưới chiếu bạc. H đưa cho B 01 chùm chìa khoá nhà và dặn B là có ai đến thì ra mở cửa. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Lê Thanh H3 đến và tham gia chơi bạc. Quá trình đánh bạc Kiều Xuân B đã cho Vương Tất C vay 4.000.000 đồng; Nguyễn Văn Đ1 vay 5.000.000 đồng và Lê Thanh H3 vay 3.000.000 đồng. Các đối tượng đang chơi bạc đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 16/02/2024 thì bị công an bắt quả tang,.

T4 tại chiếu bạc: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, số tiền 15.600.000 đồng

T4 trong người: Nguyễn Văn H 1.350.000 đồng, Nguyễn Bá T2 1.470.000 đồng, Bùi Văn H6 110.000 đồng, Kiều Xuân B 26.835.000 đồng.

Thu của Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15ProMax. Kiều Xuân B 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xs.

Trong quá trình điều tra Cơ quan đã điều tra làm rõ số tiền 26.835.000 đồng của Kiều Xuân B không dùng vào đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 26/CT - VKSMÐ ngày 29/5/2024 của VKSND huyện Mỹ Đức và Công văn số 411/CV - VKSMĐ ngày 13/6/2024, Công văn số 463/CV - VKSMÐ ngày 26/7/2024 vẫn truy tố: Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3, Nguyễn Bá T2, Bùi Văn H6 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3, Nguyễn Bá T2, Bùi Văn H6 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của BLHS xử phạt: Bùi Văn H6 từ 07 đến 09 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS xử phạt: Nguyễn Văn H từ 18 đến 20 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS xử phạt: Kiều Xuân B từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
  • Nguyễn Bá T2 từ 07 đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 16 tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của BLHS xử phạt: Nguyễn Văn Đại từ 20 đến 26 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ.
  • Vương Tất C từ 20 đến 26 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ.
  • Lê Thanh H3 từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam.
  • Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng:

  • Đề nghị tịch thu và tiêu hủy vật chứng của vụ án là: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
  • Đối với số tiền thu giữ 45.365.000 đồng; trong đó có 18.530.000 đồng các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc, tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đề nghị trả lại cho:
    • + Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max.
    • + Kiều Xuân B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Iphone Xs và 26.835.000 đồng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với các bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân, diễn biến hành vi; căn cứ lời khai nhận của các bị cáo, sơ đồ hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 16/02/2024, tại nhà ở của Nguyễn Văn H, ở thôn H, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội, Công an huyện M bắt quả tang Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3, Nguyễn Bá T2, Bùi Văn H6 đang đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” bằng bộ tú lơ khơ; tổng số tiền các bị cáo dùng vào đánh bạc là 18.530.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh địa phương, mà còn là một trong những căn nguyên làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khiến quần chúng bất bình, lên án đòi hỏi phải đưa ra xử lý bằng pháp luật hình sự với những mức hình phạt nghiêm, tương xứng với vai trò và tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của từng bị cáo trong vụ án.

Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn trong đó:

Nguyễn Văn H là người sử dụng nhà ở của mình vào việc đánh bạc, tham gia đánh bạc, nên xếp ở vị trí thứ nhất.

Kiều Xuân B là người giúp sức cho H, mở cửa cho Lê Thanh H3 vào chơi bạc, cho Vương Tất C; Nguyễn Văn Đ1, Lê Thanh H3 vay tiền để chơi bạc, nên xếp ở vị trí thứ hai.

Nguyễn Bá T2, Bùi Văn H6, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3 đều là những người chơi bạc, nên xếp ở vị trí thứ ba và thứ tư.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Kiều Xuân B, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3, Nguyễn Bá T2 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Văn H6 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo Nguyễn Văn H đã từng có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bản thân bị cáo H được Ban chấp hành Hội Chữ thập đỏ Thành phố Hà Nội chứng nhận đạt danh hiệu Gia đình Chữ thập đỏ cấp Thành phố và được UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội tặng Giấy khen trong thực hiện cuộc vận động ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”, quỹ “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, quỹ “Vì biển đảo Việt Nam” là các tình tiết quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS mà giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét bị cáo Bùi Văn H6 đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, nhưng không chịu sửa chữa sai lầm, nay lại phạm tội Đánh bạc. Bởi vậy cần cách ly bị cáo H6 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục cải tạo bị cáo trở về con đường lương thiện cũng là để làm gương cho người khác.

Xét các bị cáo Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Bá T2 đều phạm tội ít nghiêm trọng, chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Hội đồng xét xử đối chiếu Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì các bị cáo Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Bá T2 đều đủ điều kiện xem xét được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, có tác dụng giáo dục đồng thời thể hiện sự nhân văn của pháp luật đối với người phạm tội.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Văn H8 không cần thiết phải cách ly các bị cáo Đ1, C, H8 ra khỏi xã hội mà áp dụng biện pháp chấp hành cải tạo không giam giữ phù hợp với Điều 36 của BLHS; giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục.

Xét các bị cáo đều xuất thân từ nghề nông (trừ bị cáo H), thu nhập có mức độ, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cũng như khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Đối với hành vi Nguyễn Văn H đưa cho Kiều Xuân B 32.000.000 đồng. Kiều Xuân B cho Vương Tất C; Nguyễn Văn Đ1, Lê Thanh H3 vay tiền. Tại phiên tòa H và B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nên giành quyền khởi kiện cho bị cáo H, B trong một vụ án khác nếu các bên có yêu cầu.

Về vật chứng của vụ án:

  • Đối với: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy.
  • Đối với: 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone 15 Pro Max thu giữ của Nguyễn Văn H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Iphone Xs thu giữ của Kiều Xuân B đều không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B.
  • Đối với số tiền thu giữ 45.365.000 đồng: Trong đó có 18.530.000 đồng các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại 26.835.000 đồng không dùng vào việc đánh bạc, nên trả lại cho bị cáo Kiều Xuân B.

Ngoài ra buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3, Nguyễn Bá T2, Bùi Văn H6 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của BLHS xử phạt: Bùi Văn H6 06 (Sáu) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.
    • Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Bùi Văn H6 đang bị tạm giam, nếu bị cáo Bùi Văn H6 không bị tạm giam về một tội phạm khác.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS xử phạt: Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS xử phạt:
      • + K (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.
      • + Nguyễn Bá T2 07 (Bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
    • Giao bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Bá T2 cho UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Giao bị cáo Kiều Xuân B cho UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của BLHS xử phạt:
      • + Nguyễn Văn Đ1 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ, còn phải chấp 23 (Hai mươi ba) tháng 03 (Ba) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện M, Thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.
    • Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ1 cho UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn Đ1 có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục bị cáo.
    • + Vương Tất C 22 (Hai mươi hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ, còn phải chấp 21 (Hai mươi mốt) tháng 03 (Ba) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện M, Thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.
    • Giao bị cáo Vương Tất C cho UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Vương Tất C có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục bị cáo.
    • + Lê Văn H8 21 (Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 06 (Sáu) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tạm giữ, tạm giam, còn phải chấp 02 (Hai) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện M, Thành phố Hà Nội nhận được Quyết định thi hành án.
    • Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lê Thanh H3 đang bị tạm giam, nếu bị cáo Lê Thanh H3 không bị tạm giam về một tội phạm khác.
    • Giao bị cáo Lê Văn H8 cho UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Lê Văn H8 có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục bị cáo.
    • Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
  3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu và tiêu hủy vật chứng của vụ án là: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 18.530.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
    • - Trả lại cho:
      • + Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15 Pro Max (đã niêm phong).
      • + K 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS (đã niêm phong) và 26.835.000 đồng (Hai mươi sáu triệu tám trăm ba lăm nghìn đồng).
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức ngày 12/6/2024 và Ủy nhiệm chi chuyển khoản ngày 10/6/2024).
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Kiều Xuân B, Nguyễn Văn Đ1, Vương Tất C, Lê Thanh H3, Nguyễn Bá T2, Bùi Văn H6 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận;

  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;
  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Công an huyện M;
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã H;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lã Phi Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS -ST ngày 13/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 49/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H cùng ĐP đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger