Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Phúc.

Bà Phạm Thu Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Cao Duyệt Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T

sinh năm 1997, tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Con ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị M; Bị cáo có vợ là Trịnh Thị Kim C và có 01 người con sinh năm 2017;

Tiền án: 01.

  • + Ngày 07/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong án phạt tù vào ngày 26/11/2022.

Tiền sự: 03.

  • + Ngày 14/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.
  • + Ngày 10/4/2023, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã nộp phạt vào ngày 11/4/2023.
  • + Ngày 02/5/2023, bị Công an huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích. Chưa nộp phạt.

Nhân thân:

  • + Ngày 09/6/2014, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 27/11/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 08 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong án phạt tù vào ngày 22/8/2015. Đã được xóa án tích.
  • + Ngày 29/3/2016, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 07/11/2016, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đã chấp hành xong vào ngày 04/02/2017.
  • + Ngày 17/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong vào ngày 24/3/2019.
  • + Ngày 30/7/2020, bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã nộp phạt ngày 30/7/2020.
  • + Ngày 16/11/2020, bị Công an huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác. Đã nộp phạt ngày 08/12/2020.
  • + Ngày 29/12/2020, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đã chấp hành xong vào ngày 30/3/2021.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam P Bộ C1 theo bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Thời hạn 01 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Bị hại:

  1. Lý Ngọc Bảo T1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
  2. Lê Trọng N, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị Bích L, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
  2. Lê Phước H1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Khu phố A, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Trần Thị L1, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
  2. Phạm Thế H2, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu dùng cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 27/8/2023 đến ngày 28/8/2023, Nguyễn Hoàng T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre và xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/8/2023, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, không rõ biển số, lưu thông trên Quốc lộ F hướng từ cầu M về xã H để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến kho dừa thuộc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre của chị Lý Ngọc Bảo T1 thì T phát hiện có xe mô tô hiệu SYM Attila, biển số 71B2-820.05 dựng bên trong kho không có người trông coi nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt, T dẫn xe mô tô của mình ra ngoài cất giấu rồi đi bộ vào kho dừa, cúp cầu dao điện để vô hiệu hóa camera, dùng bật lửa đốt cháy dây vải buộc cửa rồi mở cửa đi vào dẫn xe mô tô biển số 71B2-820.05 ra ngoài. Do không mở được khóa nên T dẫn bộ xe đến nhà nghỉ “Thiên Thanh” thuộc ấp H, xã H, huyện M thuê phòng cất giấu xe, rồi thuê xe ôm quay lại khu vực kho dừa lấy xe Sirius của mình đem về nhà. Sau đó, T thuê xe taxi đến nhà nghỉ trả phòng lấy xe mô tô biển số 71B2-820.05 vừa trộm chạy về nhà. Ngày 03/9/2023, T sử dụng xe mô tô biển số 71B2-820.05 đến địa bàn Phường D, thành phố B tìm tài sản để lấy trộm thì bị phát hiện và thu giữ cùng tang vật.

Vụ thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 28/8/2023, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô kiểu dáng loại Wave màu xanh, không rõ biển số, đi từ xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre đến huyện C, tỉnh Bến Tre để tìm tài sản lấy trộm. Khi chạy ngang tiệm hớt tóc “Thế Hiển” của anh Phạm Thế H2, T nhìn thấy xe mô tô Honda loại Airblade, màu xanh - đen, biển số 71B4-100.51 của anh Lê Trọng N để trong nhà, trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm. T điều khiển xe mô tô của mình chạy đến đậu trong hẻm gần vòng xoay H rồi đi bộ lại tiệm hớt tóc, kéo cửa vào dẫn xe mô tô biển số 71B4-100.51 ra ngoài rồi nổ máy tẩu thoát chạy về quán cà phê võng bỏ hoang bên đường gần ngã tư T thuộc xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cất giấu. Sau đó, T thuê xe taxi chở đến vòng xoay H để lấy chiếc xe mô tô kiểu dáng loại Wave màu xanh chạy về. Đến khoảng 08 giờ ngày 28/8/2023, T dùng cờ lê mở biển số 71B4-100.51 của xe Airblade ra, bỏ vào cốp xe rồi mua biển số 59X1 - 118.14 ở vựa ve chai gần nhà gắn vào xe Airblade làm phương tiện đi lại, còn biển số 71B4-100.51 Tuần mang lên cầu C thuộc huyện M, tỉnh Bến Tre và vứt xuống sông hiện không tìm được. Khoảng 03 giờ ngày 10/9/2023, T điều khiển xe mô tô nêu trên đi đến địa bàn xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre tìm tài sản để trộm cắp thì bị lực lượng Công an huyện C tuần tra phát hiện và thu giữ cùng tang vật.

Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 xe mô tô HONDA AIRBLADE, màu xanh đen, biển số 71B4 - 100.51;
  • - 01 xe mô tô hiệu SYM Attila, biển số 71B2-820.05;
  • - 01 cờ lê bằng kim loại (khóa 12) đầu hình tròn, một đầu có hình chữ U, trên cờ lê có in chữ “12 DIAMOND BRAND 12";
  • - 01 biển số 59X1 - 118.14.

Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL/-HĐĐGTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận: tại thời điểm bị chiếm đoạt (ngày 27/8/2023) xe mô tô hiệu SYM Attila, biển số 71B 2-820.05 có trị giá là 7.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1607/KL-HDĐG ngày 18/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: xe mô tô hiệu Honda loại Airblade màu xanh đen, biển số 71B4-100.51 tại thời điểm ngày 28/8/2023 có trị giá là 28.875.000 đồng.

Cáo trạng số 41/CT-VKSCT ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm “Tội trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 01 năm đến 02 năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Xử lý vật chứng:

  • + Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Trần Thị Bích L: 01 xe mô tô HONDA AIRBLADE, biển số 71B4 - 100.51; đã trả lại cho chị Lý Ngọc Bảo T1: 01 xe mô tô SYM Attila, biển số 71B2-820.05.
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 cờ lê bằng kim loại (khóa 12) đầu hình tròn, một đầu có hình chữ U, trên cờ lê có in chữ “12 DIAMOND BRAND 12”.
  • + Giao Công an huyện C, tỉnh Bến Tre: 01 biển số 59X1-118.14 để tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu, xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại về vị trí, thời gian và đặc điểm tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên trong các ngày 27 và 28/8/2023, Nguyễn Hoàng T đã thực hiện hành vi hai lần trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện M và huyện C, cụ thể: Vào ngày 27/8/2023, tại ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre lấy trộm một xe mô tô hiệu SYM Attila, biển số 71B2-820.05 của chị Lý Ngọc Bảo T1 trị giá 7.000.000 đồng và vào ngày 28/8/2023 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre lấy trộm một xe mô tô Honda loại Airblade, màu xanh - đen, biển số 71B4-100.51 của anh Lê Trọng N trị giá 28.875.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 35.875.000 đồng.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý, trông coi tài sản, bị cáo đã tiếp cận, lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại với giá trị tài sản mỗi lần lấy trộm lần lượt là 7.000.000 đồng và 28.875.000 đồng nên mỗi lần trộm tài sản đều đủ cấu thành tội phạm. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần lượt vào ngày 27 và 28/8/2023, mỗi lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Năm 2021, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có con nhỏ chưa thành niên, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều tiền án, tiền sự và nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, điều này cho thấy bản tính xem thường pháp luật và khó cải tạo, giáo dục của bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và bản tính xem thường pháp luật của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Do bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vì vậy, phải tổng hợp hình phạt của lần xét xử này theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[8] Xử lý vật chứng:

  • + Đối với xe mô tô HONDA AIRBLADE, biển số 71B4 - 100.51 là tài sản của chị Trần Thị Bích L cho anh Lê Trọng N mượn để sử dụng, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe cho chị Trần Thị Bích L là phù hợp nên ghi nhận.
  • + Đối với xe mô tô SYM Attila, biển số 71B2-820.05 là tài sản của chị Lý Ngọc Bảo T1, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe cho chị Lý Ngọc Bảo T1 là phù hợp nên ghi nhận.
  • + Đối với 01 cờ lê bằng kim loại (khóa 12) đầu hình tròn, một đầu có hình chữ U, trên cờ lê có in chữ “12 DIAMOND BRAND 12” là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
  • + Đối với 01 biển số 59X1 - 118.14, qua xác minh xác định anh Lê Phước H1 là người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô có biển số 59X1 - 118.14, tuy nhiên qua làm việc anh H1 khẳng định đã bán xe mô tô có biển số 59X1 - 118.14 cho người khác, không nhớ lai lịch và không làm thủ tục sang tên, do đó giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C để tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu biển số 59X1 - 118.14, xử lý theo thẩm quyền.
  • + Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, không rõ biển số và xe mô tô kiểu dáng loại Wave màu xanh T dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, T khai đã bán cho một người không rõ lai lịch, không thu hồi được nên không đề cập, xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

[1] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023.

[2] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[3] Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Xử lý vật chứng:

  • + Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Trần Thị Bích L: 01 xe mô tô HONDA AIRBLADE, biển số 71B4 - 100.51; đã trả lại cho chị Lý Ngọc Bảo T1: 01 xe mô tô SYM Attila, biển số 71B2-820.05.
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) Cờ lê bằng kim loại (khóa 12) đầu hình tròn, một đầu có hình chữ U, trên cờ lê có in chữ “12 DIAMOND BRAND 12”.
  • + Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C: 01 (một) biển số 59X1 - 118.14, để tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu, xử lý theo thẩm quyền.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)

[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND T.Bến Tre;
  • - VKSND T.Bến Tre;
  • - Cơ quan THAHS Công an T.Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp T.Bến Tre;
  • - VKSND H.Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H.Châu Thành;
  • - Công an H. Châu Thành;
  • - Bộ phận HS Công an H.Châu Thành;
  • - UBND xã Thành An, H.Mỏ Cày Bắc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE về hình sự (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử T 01 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger