Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12 tháng 9 năm 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời

Bà Võ Thị Phương

-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Ông Đặng Văn Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2024/HNGĐ-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 131/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1986.
  • Địa chỉ: I N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
  • Bị đơn: Ông Trịnh Đình H, sinh năm: 1977.
  • Địa chỉ: I N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Trịnh Đình H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2003 ngày 07/10/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại I N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không còn tin tưởng, yêu thương nhau, thường xuyên cãi vã dẫn đến bạo lực gia đình, mỗi người có cuộc sống riêng, hôn nhân lâm vào bế tắc. Mâu thuẫn được bà T nhiều lần cố hàn gắn nhưng không được, tình cảm vợ chồng không còn. Bà Phạm Thị T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trịnh Đình H.

Về con chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng có 03 con chung là Trịnh Gia H1, sinh ngày 25/11/2004; Trịnh Tùng L, sinh ngày 15/5/2014 và Trịnh Nam C, sinh ngày 27/3/2016. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Trịnh Tùng L và Trịnh Nam C, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho việc nuôi con. Đối với con chung là Trịnh Gia H1 đã thành niên và phát triển bình thường nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị T xác định bà và ông Trịnh Đình H không có tài sản chung và nợ chung.

- Bị đơn ông Trịnh Đình H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến.

-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với ông Trịnh Đình H. Về hôn nhân: Cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Trịnh Đình H; Về con chung: Giao con chung Trịnh Tùng L, sinh ngày 15/5/2014 và Trịnh Nam C, sinh ngày 27/3/2016 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên, ông Trịnh Đình H không cấp dưỡng nuôi con. Con chung là Trịnh Gia H1 đã thành niên và phát triển bình thường nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị T xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với ông Trịnh Đình H vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Trịnh Đình H cư trú tại phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Bị đơn ông Trịnh Đình H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị T và ông Trịnh Đình H xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà Phạm Thị T xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau và dẫn đến bạo lực gia đình, vợ chồng không còn tin tưởng yêu thương nhau, nay mỗi người có một cuộc sống riêng. Đối với ông Trịnh Đình H vắng mặt, không có ý kiến gì.

Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự đã có mâu thuẫn trầm trọng, việc bị đơn ông Trịnh Đình H không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy ông không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, chính quyền địa phương cũng xác nhận vợ chồng ông bà không còn chung sống, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị T phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Trịnh Đình H.

[2.2]. Về con chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng bà có 03 con chung, trong đó có 02 con chung chưa thành niên hiện do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng và 01 con chung đã thành niên và phát triển bình thường. Ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung đang sống cùng với bà Phạm Thị T có chính quyền địa phương xác nhận. Bà T có cung cấp tài liệu chứng cứ kèm theo chứng minh bà đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Con chung trên 7 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ. Ông Trịnh Đình H vắng mặt không có ý kiến về việc nuôi con chung. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, tiếp tục giao các con chung Trịnh Nam C và Trịnh Tùng L cho bà trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Đối với con chung Trịnh Gia H1, sinh ngày 25/11/2004 đã thành niên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị T không yêu cầu cấp dưỡng. Ông H vắng mặt không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Đối với ông Trịnh Đình H vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của bà Phạm Thị T đối với ông Trịnh Đình H.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Trịnh Đình H (Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2003 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định cấp ngày 07/10/2003 không còn giá trị pháp lý).

2. Về con chung: Giao con chung là Trịnh Tùng L, sinh ngày 15/5/2014 và Trịnh Nam C, sinh ngày 27/3/2016 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt thành niên. Ông Trịnh Đình H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

Con chung Trịnh Gia H1 sinh ngày 25/11/2004 đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Phạm Thị T đã nộp theo biên lai thu số: 0002699 ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - UBND xã Xuân Thuỷ, huyện Xuân Trường,
  • tỉnh Nam Định;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà T và ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger