|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12/7/2024
“V/v Tranh chấp về xác định cha
cho con chưa thành niên"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
Bà Đàm Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023, về việc: “Tranh chấp xác định cha cho con chưa thành niên”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 27A/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Giang Thị T, sinh năm 1990; nơi ĐKTT: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: thôn B, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Phạm Quang B, sinh năm 1985; nơi cư trú: khu P, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Han Han S, sinh năm 1974; địa chỉ: 3, gilpa-ro 35beon-gil, M-gu, I, Hàn Quốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Giang Thị T trình bày: chị Giang Thị T và anh Han Han S, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 23/7/2015. Sau khi kết hôn chị T sang Hàn Quốc chung sống với anh Han Han S, cuộc sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn là đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do khác nhau về phong tục tập quán, sinh hoạt nên chị T và anh Han Han S sống ly thân. Năm 2019, chị T về Việt Nam để hoàn thiện thủ tục ly hôn nhưng tại thời điểm này dịch COVID-19 bùng phát nên chị T không quay về Hàn Quốc được làm thủ tục ly hôn. Đến năm 2020, chị T sang Hàn Quốc để tiếp tục làm thủ tục ly hôn. Tuy nhiên, Toà án gia đình I, Hàn Quốc không liên hệ được anh Han Han S để giải quyết thủ tục ly hôn theo quy định. Cho đến năm 2022, chị T đã được Toà án gia đình I, Hàn Quốc chấp thuận cho ly hôn, thể hiện tại Giấy xác nhận số 2022hohyop 5176 ngày 11/11/2022. Chị T và anh Han Han S không có con chung và tài sản chung.
Trong thời gian về Việt Nam, chị T có quan hệ tình cảm với anh Phạm Quang B, hai người đã có một con chung dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H. Để đảm bảo quyền lợi cho con, chị T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định anh Phạm Quang B là cha của con dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H.
* Tại bản tự khai và trong quá trình tố tụng bị đơn anh Phạm Quang B trình bày: anh Phạm Quang B và chị Giang Thị T có quan hệ tình cảm từ năm 2019, thời điểm này anh B không biết chị T đã lấy chồng Hàn Quốc. Anh B và chị T có một con chung dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H. Sau khi chị T sinh con, chị T mới nói cho anh B biết về việc chị T đã có chồng bên Hàn Quốc và đang làm thủ tục ly hôn. Chị T đã được Toà án gia đình I, Hàn Quốc chấp thuận cho ly hôn, thể hiện tại Giấy xác nhận số 2022hohyop 5176 ngày 11/11/2022. Chị T yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định anh Phạm Quang B là cha của con dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H, anh B chấp nhận. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T.
* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Han Han S: là người Hàn Quốc và theo yêu cầu của nguyên đơn chị Giang Thị T. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành ủy thác tư pháp ra nước ngoài thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị Giang Thị T và yêu cầu anh H Han Soo có mặt theo thời gian, địa điểm mà Toà án đã thông báo để giải quyết vụ án.
Ngày 25/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận được Công văn số: 504/BTP-PLQT ngày 18/3/2024 của Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Theo đó, Cục quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hàn Dân Quốc không thực hiện được ủy thác do người nhận đóng cửa, vắng mặt.
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thực hiện niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ngày 15/4/2024 và Cổng thông tin điện tử của Đ tại Hàn Quốc ngày 20/5/2024.
Tại phiên tòa ngày 12/6/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Han Han S không có mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất và ấn định thời gian, địa điểm mở phiên tòa lần thứ hai vào hồi 08 giờ ngày 12/7/2024, tại Hội trường xét xử số 4 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai, Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu chứng cứ từ anh Han Han S và anh Han Han S cũng không có mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Giang Thị T và bị đơn anh Phạm Quang B đều thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Giang Thị Thanh n nêu trên; căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Giang Thị T: xác định anh Phạm Quang B là cha của cháu dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Quảng Ninh.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn chị Giang Thị T giao nộp và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp xác định cha cho con chưa thành niên”; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Han Han S, sinh năm 1974 mang quốc tịch Hàn Quốc, hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Han Han S đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo thời gian mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án thông qua ủy thác tư pháp, niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Cổng thông tin điện tử của Đ tại Hàn Quốc.
Tại phiên tòa ngày 12/6/2024 và tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Han H Soo vắng mặt, không có đơn xin vắng mặt; nguyên đơn chị Giang Thị T và bị đơn anh Phạm Quang B, đều vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về nội dung: trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Giang Thị T và anh Han Han S, theo chị T trình bày trong thời gian chị T từ Hàn Quốc trở về Việt Nam sinh sống, chị T đã có quan hệ tình cảm với anh Phạm Quang B, sinh năm 1985; nơi cư trú: khu P, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Chị T và anh B có một con chung dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Để đảm bảo quyền lợi cho con, cụ thể là khai sinh cho con theo quy định của pháp luật, chị T yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định anh Phạm Quang B là cha của con dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 23/7/2023 của Công ty cổ phần D, kết luận: anh Phạm Quang B và cháu trai dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H, có mối quan hệ huyết thống cha – con.
Anh Phạm Quang B trình bày phù hợp với nội dung chị Giang Thị T trình bày nêu trên và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T về việc yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định anh Phạm Quang B là cha của con dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021, của Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ quy định tại Điều 88; Điều 89; khoản 2 Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: tuy cháu trai dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021 theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021 của Trung tâm y tế huyện H được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Giang Thị T và anh Han Han S, nhưng xét thấy trong thời kỳ xác định chị Giang Thị Thanh thụ t thì anh H Han Soo không ở Việt Nam; tại Giấy xác nhận số 2022hohyop 5176 ngày 11/11/2022 của Toà án gia đình I, Hàn Quốc đã chấp thuận cho chị Giang Thị T và anh H Han Soo ly hôn, chị Giang Thị T và anh Han Han S không có con chung, tài sản chung; căn cứ kết luận tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 23/7/2023 của Công ty Cổ phần D, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Giang Thị T về việc yêu cầu Tòa án xác định anh Phạm Quang B là cha của cháu trai dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021.
[3] Về án phí: căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí xác định cha cho con chưa thành niên sơ thẩm cho chị Giang Thị T.
[4] Về lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài: căn cứ quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 44 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Giang Thị T phải chịu lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.
[5] Về chi phí tố tụng: Tòa án đã chi trả cho việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài hết tổng số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Giang Thị T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (đã nộp đủ).
[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; Điều 149; khoản 3 Điều 153; Điều 154; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 88; Điều 89; khoản 2 Điều 101; Điều 102 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm b khoản 1 Điều 12 và Điều 44 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Giang Thị T.
- Về quan hệ xác định cha cho con: xác định anh Phạm Quang B, sinh năm 1985; nơi cư trú: khu P, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh là cha của cháu trai dự định đặt tên là Phạm Nguyên K, sinh ngày 10/02/2021, theo Giấy chứng sinh số 2404 ngày 10/02/2021 của Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí: chị Giang Thị T được miễn án phí xác định cha cho con chưa thành niên sơ thẩm.
- Về lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài: chị Giang Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền phí, lệ phí số: 0097056 ngày 15/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
- Về chi phí tố tụng: chị Giang Thị T phải chịu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (đã nộp đủ).
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Giang Thị T và anh Phạm Quang B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Han Han S có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về xác định cha cho con chưa thành niên
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha cho con chưa thành niên
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giang Thi T - Pham Quang B
