Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/DS-PT

Ngày 11-7 - 2024

“V/v: Tranh chấp

Chia thừa kế tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Các thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng và bà Điêu Thị Bích Lượt

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 26/2024/DSPT ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Chia thừa kế tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXPT-DS ngày 18 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kiều A, sinh năm 1997

    Địa chỉ: Tổ C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    1. Bà Vũ Thị H, sinh năm 1974

      Địa chỉ: Số nhà B, Đại lộ H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

    2. Bà Đoàn Thị Hồng V, sinh năm 1980

      Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

    3. Ông Đặng Anh S, sinh năm 1974

      Địa chỉ: Phường V, Thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

    4. Ông Nguyễn Quý D, sinh năm 1997

      Địa chỉ: Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

  2. Bị đơn: Bà Hán Thị D1, sinh năm 1952

    Địa chỉ: Số nhà A, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

    Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Huy K, sinh năm 1997.

    Địa chỉ: Biệt thự E, khu A, KĐT N, phường Y, Quận C, thành phố Hà Nội, (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Minh T, sinh năm 1995

    Địa chỉ: Biệt thự E, khu A, KĐT N, phường Y, Quận C, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    1. Văn phòng C, tỉnh Phú Thọ

      Địa chỉ: Số 302 đường Hoa Khê, thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

      Đại diện theo pháp luật: Ông Nông Quốc K1, sinh năm 1963

      Chức vụ: Trưởng Văn phòng C (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

      Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt D2, sinh năm 1977

      Trú tại: Khu A, xã H, huyện P, tỉnh Phú Thọ là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/6/2023) (vắng mặt).

      Bà Nguyễn Thúy H1, sinh năm 1999

      Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

    2. Chị Nguyễn Thị Minh H2, sinh năm 1984

      Địa chỉ: Tổ D, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

    3. Chị Nguyễn Thị Minh H3, sinh năm 1981 (vắng mặt).

    4. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 (vắng mặt).

    Cùng có địa chỉ: Khu I, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân (TAND) thành phố V, người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có quan điểm trình bày: Chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1975; trú tại: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là dì ruột của chị A. Ngày 03/7/2017, chị H4 lập di chúc để lại cho chị Kiều A được hưởng di sản thừa kế của chị H4 là ½ quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất trong khối tài sản chung của vợ chồng chị H4 là thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 69,8m², tại khu A, xóm M, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/03/2017 tên ông Nguyễn Phương D3 và bà Nguyễn Thị Thu H4.

Ngày 18/7/2017, chị H4 chết; năm 2018 anh Nguyễn Phương D3 chết. Sau khi anh D3 chết, chị Nguyễn Kiều A có liên hệ với gia đình anh D3 để giải quyết việc nhận di sản thừa kế theo di chúc của chị H4 nhưng gia đình anh D3 nói đã bán tài sản cho người khác. Bố anh D3 đã mất hiện nay chỉ còn mẹ anh D3 là bà Hán Thị D1, còn sống và đang sinh sống tại số nhà A, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đang quản lý di sản thừa kế này.

Nay chị Nguyễn Kiều A khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết để chia di sản thừa kế theo nội dung di chúc do chị H4 lập ngày 03/7/2017.

Tại bản tự khai ngày 23/5/2023 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Thống nhất với lời khai của chị A tại bản tự khai ngày 26/4/2023, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều A và đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận giá trị định giá tài sản của Công ty TNHH T3 để đảm bảo quyền lợi cho đương sự.

Tại bản tự khai ngày 18/4/2023 bị đơn là bà Hán Thị D1 trình bày: Anh Nguyễn Phương D3 và chị Nguyễn Thị Thu H4 là con trai và con dâu của bà. Anh Duy và chị H4 không có con chung và chồng bà đã chết trước anh D3. Trước đó, gia đình bà có cắt cho anh D3, chị H4 01 thửa đất tại tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để xây nhà ở. Sau này vợ chồng anh D3, chị H4 có bán một nửa cho anh Phạm Văn N, còn lại thì vợ chồng sống ở đó được 10 năm, do chị H4 bị ung thư chữa trị lâu dài, tốn kém nên gia đình đồng ý bán nhà này cho em gái anh D3 để lấy tiền chữa trị và một phần tiền dùng để mua thửa đất hiện nay chị Kiều A đang khởi kiện chia thừa kế.

Thời gian này chị H4 bị bệnh nặng phải trị xạ, hóa trị, tiêm mocphin tại nhà, không đi lại được, gia đình bà và chị gái chị H4 là chị T1 thay nhau chăm sóc. Trong khi gia đình bà D1 không có mặt, chị T1 đã đưa chị H4 đi đâu trong 03 ngày không ai biết. Đến nay bà D1 mới biết trong thời gian 03 ngày này chị H4 lập bản di chúc ngày 03/7/2017 để lại ½ tài sản là thửa đất của vợ chồng cho chị Nguyễn Kiều A.

Nay chị Nguyễn Kiều A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế theo di chúc do chị H4 lập ngày 03/7/2017, bà D1 không nhất trí. Theo bà di chúc này không hợp pháp vì thời gian này chị H4 đang bệnh nặng, hàng ngày phải tiêm nhiều mocphin, tinh thần không tỉnh táo, lúc tỉnh lúc mơ, việc lập di chúc có sự lừa dối.

Tại lời khai ngày 02/6/2023 và bản tự khai bổ sung ngày 10/10/2023 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị đơn và không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguồn gốc di sản là do gia đình bị đơn cho vợ chồng anh D3, chị H4 01 thửa đất, chị H4 không có công sức đóng góp gì. Sau này chị H4 bị ung thư, không có tiền trang trải cuộc sống nên đã chuyển nhượng cho em gái anh D3 là chị Nguyễn Thị Minh H3. Giá trị giao dịch mua bán giữa anh D3, chị H4 và chị H3 là 900.000.000đồng. Số tiền chuyển nhượng đất vợ chồng anh D3 trả nợ Ngân hàng, còn lại mua và chuyển đổi mục đích sử dụng đất và xây dựng căn nhà 1,5 tầng đang tranh chấp hiện nay.

Như vậy, nhà đất đang tranh chấp là tài sản của anh D3, chị H4 hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng nguồn tiền có được để mua tài sản này là do bố mẹ anh D3 cho thửa đất số 147, tờ bản đồ số 30, sau đó vợ chồng bán đi để trả nợ, số tiền còn lại dùng để mua nhà đất hiện đang tranh chấp, chị H4 thực tế không có công sức đóng góp. Vì vậy, đề nghị Tòa án xác định phần công sức đóng góp của anh D3 là 70%/tổng giá trị di sản còn chị H4 là 30%/tổng giá trị di sản thừa kế.

Đối với bản di chúc chị H4 lập ngày 03/7/2017 tại Văn phòng C, thì tính đến ngày chị H4 chết (18/07/2017) thì anh D3 là hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật (bố mẹ chị H4 đã chết trước và vợ chồng không có con). Vì vậy, căn cứ Điều 644 Bộ luật dân sự thì anh D3 là người hưởng thừa kế nhưng không phụ thuộc vào nội dung di chúc “hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật”.

Ngày 28/07/2018, anh D3 chết nhưng không để lại di chúc nên bà D1 là hàng thừa kế duy nhất và là người thừa kế nhận chuyển tiếp phần di sản thừa kế mà anh D3 đáng lẽ được hưởng từ chị H4 theo Điều 644 BLDS. Do đó, đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung vợ chồng anh D3 theo hướng anh D3 được hưởng 70% (phần này bà D1 được hưởng), chị A được hưởng 30%; đối với phần di sản của chị A đề nghị chia cho anh D3 2/3, phần còn lại của nguyên đơn là ½, anh D3 chết thì phần anh D3 được hưởng chuyển tiếp cho bà D1.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn nhất trí với lời trình bày của bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn, không bổ sung ý kiến gì thêm.

Tại văn bản ngày 07/6/2023 đại diện Văn phòng C trình bày: Ngày 03/7/2017, Văn phòng C nhận được yêu cầu công chứng di chúc của bà Nguyễn Thị Thu H4. Sau khi nhận được yêu cầu công chứng, Văn phòng đã yêu cầu bà H4 cung cấp các giấy tờ pháp lý liên quan đến bản di chúc và thực hiện công chứng bản Di chúc ngày 03/7/2017, số 06/07.2017 - Quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGG.

Về nội dung: Bản di chúc được lập bởi bà Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1975, CMND số [...] do Công an tỉnh P cấp ngày 12/9/2015, ĐKHKTT tại Khu A, xã T, V, Phú Thọ. Trong đó, bà H4 xác định khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình và quyết định về khối tài sản do bà để lại. Trong quá trình lập di chúc, bà H4 còn khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn, tỉnh táo, sáng suốt và không bị ai cưỡng bức, ép buộc và lừa dối.

Về hình thức: Khi tiến hành lập bản di chúc, bà Nguyễn Thị Thu H4 đã tuyên bố toàn bộ nội dung Di chúc để công chứng viên ghi chép và in ra bằng máy tính. Bà H4 đã nghe công chứng viên đọc lại toàn văn bản, xác nhận bản di chúc đã được ghi chép hoàn toàn đầy đủ, chính xác đúng với ý nguyện của bà H4. Bà H4 biết đọc, biết viết và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật. Sau khi đã đọc, nghe và hiểu đúng với ý nguyện của bà H4, bà H4 ký và lăn tay vào bản di chúc này.

Công chứng viên đã xem xét đầy đủ các quy định của pháp luật khi thực hiện văn bản di chúc này. Văn bản công chứng số 73/05.2017 - Quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGG được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, Văn phòng C đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 23/9/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên chị Nguyễn Thị Minh H2 trình bày: Chị là em gái ruột của anh Nguyễn Phương D3. Sau khi chị H4 và anh D3 chết thì đến thời điểm tháng 9/2018 chị đã chuyển đến ngôi nhà của vợ chồng anh D3, chị H4 để trông coi nhà cửa và hương khói cho anh chị.

Quá trình sinh sống chị không xây dựng, sửa chữa, cải tạo gì mà chỉ ngủ nghỉ, trông coi nhà cửa, không có công sức và cũng không liên quan gì. Nếu Toà án giao cho ai được quyền sử dụng và sở hữu căn nhà thì chị H2 cam kết sẽ bàn giao cho người đó. Việc phân chia di sản thừa kế là việc của Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, nhưng chị đề nghị giao nhà đất cho bà D1 vì là người có công rất lớn để giúp đỡ anh D3, chị H4 mua được mảnh đất và xây dựng ngôi nhà. Hơn nữa, để đảm bảo cho bà D1 có chỗ ở về già và hương khói cho anh D3 chị H4 vào ngày tuần, ngày rằm. Vì lý do công việc, chị xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc tại Tòa án, từ chối tham gia tố tụng và không thay đổi ý kiến gì như đã trình bày.

Tại bản tự khai ngày 23/9/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Minh H3 và anh Nguyễn Văn P thống nhất trình bày: Chị là em gái ruột của anh Nguyễn Phương D3, chồng chị là em rể của anh D3. Ngày 22/02/2017 vợ chồng chị thừa nhận có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Phương D3 và chị Nguyễn Thị Thu H4 01 thửa đất số 147, tờ bản đồ số 30, diện tích 71,8m² tại tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Giá trị giao dịch mua bán giữa anh D3, chị H4 và chị H3 là 900.000.000đồng (Chín trăm triệu đồng) có bà Hán Thị D1 làm chứng. Số tiền chuyển nhượng đất vợ chồng anh D3 trả nợ Ngân hàng, còn lại mua thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 69,8m², tại khu A, xóm M, xã T và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xây dựng căn nhà 1,5 tầng đang tranh chấp hiện nay. Chị H3 là người đứng ra trực tiếp giao dịch mua bán và làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D3 và chị H4. Vì lý do công việc, anh, chị xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc tại Tòa án, từ chối tham gia tố tụng, anh chị không liên quan gì và không thay đổi ý kiến gì như đã trình bày.

Tại bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 149, 616, 623, 630, 649, 644, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 2 Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều A.

    Chị Nguyễn Kiều A được hưởng 1/3 phần di sản thừa kế của chị Nguyễn Thị Thu H4, tương ứng số tiền là 51.079.763 đồng (Năm mươi mốt triệu không trăm bảy chín nghìn bảy trăm sáu ba đồng).

  2. Giao cho Bà Hán Thị D1 được quản lý, sử dụng phần đất và nhà có diện tích 69,8m² (trong đó có 50m² đất ở và 19,8m² đất vườn) thuộc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ hiện trạng kèm theo). Buộc bà Hán Thị D1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Kiều A số tiền là 51.079.763 đồng (Năm mươi mốt triệu không trăm bảy chín nghìn bảy trăm sáu ba đồng).

    Bà D1 được quyền liên hệ, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán với chị Nguyễn Kiều A.

  3. Về án phí, chi phí tố tụng:

    • Về án phí:

      • Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hán Thị D1.

      • Chị Nguyễn Kiều A phải chịu tiền án phí sơ thẩm đối với phần di sản được chia là 2.553.988 đồng (Hai triệu năm trăm năm ba nghìn chín trăm tám mươi tám đồng). Khấu trừ số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị A đã nộp tại Biên lai thu số 0000275 ngày 14/04/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, chị A còn phải nộp 2.253.988 đồng (Hai triệu hai trăm năm ba nghìn chín trăm tám mươi tám đồng).

    • Về chi phí tố tụng: Tiền chi phí xem xét, định giá tài sản và đo đạc là 5.550.000đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), chị A đã nộp tạm ứng thanh toán xong. Bà D1 và chị A phải chịu chi phí tố tụng theo tỷ lệ giá trị phần tài sản được chia. Cụ thể bà D1 phải chịu 3.700.000đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Chị A phải chịu 1.850.000đồng (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Buộc bà D1 phải trả cho chị A số tiền 3.700.000đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Xác nhận bà D1 đã thanh toán đủ cho chị A.

Bản án còn tuyên về lãi suất, án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/01/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vũ Thị H kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm hướng đề nghị định giá lại để xác định giá trị di sản thừa kế theo đúng giá thị trường và công nhận toàn bộ ½ tài sản của chị H4 trong khối tài sản chung chị A được hưởng theo di chúc và giao cho chị A được trực tiếp sử dụng di sản, chị A có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà D1 phần bà D1 được nhận của anh D3.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị công nhận giá theo kết quả của cơ quan thẩm định giá phía nguyên đơn đã cung cấp là 1.024.347.378 đồng và đề nghị được trực tiếp nhận tài sản tranh chấp, thanh toán lại phần giá trị tài sản bà D1 được nhận.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, HĐXX, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của chị A. Giao cho chị A trực tiếp được quản lý, sử dụng di sản thừa kế là thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11 có địa chỉ tại khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ diện tích 69,8m² (trong đó có 50m² đất ở và 19,8m² đất vườn), diện tích đo thực tế 67,8m² (trong đó 50m² đất ở và 17,8m² đất vườn) và tài sản trên đất gồm có 01 ngôi nhà, 01 sân gạch, 01 cổng sắt và tường rào tổng giá trị tài sản theo chứng thư thẩm định giá số 162.1/CT-ĐG ngày 30/10/2023 của Công ty TNHH T3 là 1.024.347.378 đồng. Chị A có nghĩa vụ thanh toán 5/6 giá trị di sản cho bà Hán Thị D1.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hán Thị D1.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của chị A được chấp nhận nên chị A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:

  1. Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên cần chấp nhận.

  2. Xét nội dung kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị được nhận toàn bộ phần di sản thừa kế của chị H4 để lại theo di chúc và thanh toán giá trị tài sản cho bà Hán Thị D1 thấy rằng:

    2.1. Xét về di sản thừa kế đề nghị giải quyết: Di sản chị H4 định đoạt tại di chúc là thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 69,8m², tại khu A, xóm M, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là tài sản chung của vợ chồng chị H4, anh D3 được cấp giấy chứng nhận năm 2017, diện tích đo thực tế 67,8m² (trong đó 50m² đất ở và 17,8m² đất vườn); bà D1 cho rằng anh D3 có đóng góp công sức lớn hơn để có di sản này nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh. Vì vậy, phải xác định tài sản này là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng chị A và anh D1, nên mỗi bên được hưởng ½ giá trị tài sản, chị H4 đã lập di chúc định đoạt phần di sản của mình cho chị Nguyễn Kiều A phải được xem xét tính hợp pháp của di chúc.

    2.2. Xét tính hợp pháp của bản di chúc thấy rằng: Di chúc do chị A xuất trình được lập ngày 03/7/2017 tại Văn phòng C. Tòa án đã thu thập toàn bộ hồ sơ công chứng đã thể hiện: Trình tự, thủ tục lập di chúc đúng theo quy định của pháp luật, có chữ ký, chữ viết của chị H4. Bị đơn cho rằng khi lập bản di chúc, chị H4 đang bệnh nặng, hàng ngày phải tiêm nhiều mocphin, tinh thần không tỉnh táo, lúc tỉnh lúc mơ nên bản di chúc này có sự lừa dối. Tuy nhiên, phía bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc chị H4 bị cưỡng ép để lập bản di chúc trên nên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ. Vì vậy, phần tài sản là di sản của chị H4 sau khi chết phải được chia theo di chúc chị H4 đã định đoạt thể hiện tại di chúc.

    2.3. Về hàng thừa kế: Căn cứ Điều 644 của Bộ luật dân sự, anh D3 là người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất còn sống tại thời điểm chị H4 chết, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định anh D3 được hưởng 2/3 di sản thừa kế của chị H4 để lại không phụ thuộc vào nội dung di chúc chị H4 lập cho chị A là có căn cứ, đúng pháp luật.

    2.4. Về giá trị di sản và nghĩa vụ thanh toán di sản:

    Hội đồng định giá cấp sơ thẩm đã xác định tổng giá trị toàn bộ tài sản đất và tài sản trên đất là 306.478.580 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định chị Nguyễn Kiều A được nhận 1/3 giá trị di sản thừa kế của chị H4 tương ứng số tiền là 51.079.763 đồng.

    Tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của chị A đề nghị đinh giá lại tài sản tranh chấp; ngày 08/5/2024, Tòa án cấp phúc thẩm đã tổ chức định giá lại toàn bộ tài sản tranh chấp, kết quả định giá xác định tổng giá trị di sản chỉ còn giá trị là 223.205.381đ (Hai trăm hai mươi ba triệu hai trăm linh năm nghìn ba trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Trong khi đó, chị A chỉ được hưởng 1/3 giá trị của ½ di sản của chị H4 để lại, tương ứng với số tiền 33.867.563 đồng là giảm giá trị so với cấp sơ thẩm đã quyết định.

    Xét giá trị di sản của Hội đồng định giá cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm thấy rằng: Hội đồng định giá cấp sơ thẩm, phúc thẩm định giá căn cứ vào bảng giá đất của Hội đồng nhân dân tỉnh P quy định là chưa đảm bảo nguyên tắc tính giá trị theo giá thị trường quy định tại Điều 104 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Tại phiên tòa, bà H là người nhận ủy quyền của chị A và chị A có mặt tại phiên tòa đều thống nhất quan điểm: Đề nghị được trực tiếp nhận di sản thừa kế và thanh toán lại giá trị tài sản phần của bà D1 được nhận theo kết quả thẩm định giá chị cung cấp, tổng giá trị di sản là 1.024.347.378 đ (Một tỷ không trăm hai mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi bẩy nghìn ba trăm bẩy mươi tám đồng) và chị A đề nghị nhận toàn bộ tài sản và thanh toán lại giá trị tài sản cho bà D1 tương ứng với giá trị di sản phần của bà D1 được nhận. Quan điểm của ông K1 là người đại diện theo ủy quyền của bà D1 không nhất trí với quan điểm của chị A, đề nghị tính giá trị di sản theo giá của Hội đồng định giá cấp sơ thẩm để áp dụng chia di sản thừa kế và đề nghị giao cho bà D di s thừa kế, thanh toán giá trị bằng tiền cho chị A theo giá trị Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định. Việc chị A cung cấp kết quả thẩm định giá trị tài sản gồm 50m² đất ở trị giá 825.000.000 đồng; diện tích 17,8m² đất vườn trị giá 1.459.600đồng, 01 ngôi nhà (gồm 01 tầng hầm và 1,5 tầng) trị giá 161.828.000 đồng; diện tích 28,8m² sân gạch trị giá 30.689.280 đồng; cổng sắt 3,8m² trị giá 3.505.920 đồng; tường rào 1,1m³ trị giá 1.764.578 đồng; tổng giá trị tài sản là 1.024.347.378 đồng, tương ứng với 6 phần. Chị A được hưởng 1/6 giá trị di sản, tương ứng với số tiền 170.724.563 đ (Một trăm bẩy mươi triệu bẩy trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm sáu mươi ba đồng). Bà D1 được hưởng 5/6 giá trị di sản, tương ứng số tiền 853.622.815 đ (T2 trăm năm mươi ba triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn tám trăm mười lăm đồng) thì giá trị tài sản chị A phải thanh toán cho bà D1 là lớn hơn hai lần so với giá trị di sản do Hội đồng định giá cấp sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đưa ra.

    Ông K1 còn cho rằng ngôi nhà đó là nơi bà D1 thờ cúng anh D3 và chị H4, nhưng thực tế hiện nay bà D1 cũng không ở và cũng không thờ cúng trên ngôi nhà này mà ngôi nhà này đang cho chị Nguyễn Thị Minh H3 là cháu của bà D1 mượn. Như vậy, bà D1 cũng không thực tế quản lý và sử dụng. Do đó, việc giao toàn bộ di sản cho chị A được trực tiếp quản lý, sử dụng thì vẫn đảm bảo quyền lợi của bà D1 được thanh toán 5/6 giá trị phần di sản bà được nhận trị giá 853.622.815 ₫ (T2 trăm năm mươi ba triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn tám trăm mười lăm đồng). Giá trị này gấp hơn 02 lần với giá do hội đồng định giá cấp sơ thẩm đã định giá là đảm bảo quyền lợi của bà vừa đáp ứng nguyện vọng của chị A. Do đó việc kháng cáo và đề nghị của nguyên đơn là có căn cứ nên cần sửa bản án sơ thẩm, giao di sản cho chị Nguyễn Kiều A trực tiếp quản lý sử dụng di sản thừa kế và chị A có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị di sản cho bà D1 theo giá trị như chị A cung cấp là phù hợp vẫn đảm bảo quyền lợi của bà D1. Tại cấp phúc thẩm chị A chấp nhận thanh toán giá trị di sản tăng thêm đảm bảo quyền lợi cho bà D1 là tình tiết mới không phải do lỗi chủ quan của Tòa án cấp sơ thẩm.

  3. Về án phí:

    • Án phí dân sự sơ thẩm: Do giá trị tài sản có sự thay đổi, nên chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị di sản được nhận.

    • Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của chị A được chấp nhận nên chị A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

  4. Về chi phí tố tụng: Chị A đã nộp tạm ứng số tiền 2.800.000 đồng chi phí tố tụng, nhưng tự nguyện không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

  1. Xử: Chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Kiều A.

    Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

  2. Giao cho chị Nguyễn Kiều A được sử dụng di sản thừa kế của vợ chồng Nguyễn Thị Thu H4 và anh Nguyễn Phương D3 để lại là quyền sử dụng thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/3/2017, diện tích được cấp giấy chứng nhận là 69,8m², trong đó có 50m² đất sở, 19,8m² đất vườn), diện tích sử dụng thực tế là 67,8m²; tại địa chỉ: Khu A (tức khu X) xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; trong đó 50m² đất ở trị giá 825.459.000đồng và 17,8m² đất vườn trị giá 1.459.600 đồng. Trên đất có tài sản gồm: 01 ngôi nhà 1,5 tầng (diện tích xây dựng 1,5 tầng là 39m² + 01 tầng hầm diện tích xây dựng 39m²) trị giá 161.928.000 đồng; 01 sân gạch + mái tôn, diện tích 28,8m² trị giá 30.689.280 đồng; 01 cổng sắt 3,8m² trị giá 3.505.920 đồng và tường rào xây 1,1m³ trị giá 1.764.578 đồng. Tổng trị giá tài sản gồm đất và tài sản trên đất là 1.024.347.378 đ (Một tỷ không trăm hai mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi bẩy nghìn ba trăm bẩy mươi tám đồng) (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).

    Buộc chị Nguyễn Kiều A phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Hán Thị D1 5/6 giá trị di sản thừa kế, tương ứng số tiền 853.622.815đ (T2 trăm năm mươi ba triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn tám trăm mười lăm đồng).

    Chị Nguyễn Kiều A được quyền liên hệ, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho bà Hán Thị D1.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hán Thị D1.

    Chị Nguyễn Kiều A chịu án phí sơ thẩm tương ứng phần di sản được chia làm tròn là là 8.536.000 đ (Tám triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị A đã nộp tại Biên lai thu số 0000275 ngày 14/04/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, chị A còn phải nộp 8.236.000₫ (Tám triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho chị Nguyễn Kiều A số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí (do bà Vũ Thị H là người đại diện theo ủy quyền đã nộp thay), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005838 ngày 26/01/2024, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tp Việt Trì;
  • - Chi cục THADS tp Việt Trì;
  • - Tòa án nhân dân tp Việt Trì;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-PT ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia thừa kế tài sản

  • Số bản án: 49/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Chia thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kiều A - Hán Thị D1 - Tranh chấp chia thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger