|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số:49 /2024/DS-ST
Ngày 11.7.2024.
(V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng).
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ.
Ông Nguyễn Công Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.Địa chỉ liên hệ: Tầng D, A P, quận H, TP ., (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng: ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT, ông Ngô Chí D ủy quyền cho ông Phạm Tuấn A– Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ Pháp lý (Theo Văn bản uỷ quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023 của Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị V2). Ông Phạm Tuấn A ủy quyền lại cho ông Hoàng Anh T, ông Nguyễn Mạnh S, ông Lê Đăng H, ông Nguyễn Bá T1, ông Trần Đình L và ông Lê Quang T2 (Theo Văn bản uỷ quyền số 114/2023/UQN-CTQT ngày 01/12/2023 của Ngân hàng V - V2).
- Bị đơn: Ông Phan Công T3 - sinh năm 1991bà Nguyễn Thị Ngọc T4 - sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ G, K, phường H, TP (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Đăng H trình bày: Ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 vay vốn tại V2 - Chi nhánh Đ theo Hợp đồng cho vay số LN2007312621591 ngày 13/8/2020 với các nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 400.000.000 đồng; Thời hạn vay: 120 tháng; Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân: 11%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% nợ trong hạn; Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 365, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phan Công T3 (theo Giấy chứng nhận số CR863883, số vào sổ cấp GCN: CTs194177 do Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 23/9/2019). Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 12/8/2020 tại VPCC Trần Văn H1. Đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V2 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên nên khoản vay đã chuyển quá hạn từ ngày 15/09/2022. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ quá hạn. Vì vậy, không còn cách nào khác, Ngân hàng quyết định khởi kiện ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay.
1.Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 phải thanh toán cho V2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 11/7/2024 là dư nợ gốc 320,874,382₫ lãi 101,687,351(Lãi trong hạn 14,441,092; Lãi quá hạn 87,246,259đ, L1 chậm trả 11,026,257 đ; Tổng cộng là 433,587,990 đ; Lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 trên số nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
2. Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến ngày ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 thực tế thanh toán hết nợ cho V2.
3. Yêu cầu ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh thanh t lại cho V2 3.000.000 đồng chi phí tố tụng.
4. Yêu cầu Tòa án tuyên: khi bản án/quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, V2 có quyền tự xử lý tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho V2, cụ thể như sau:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 365, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phan Công T3 (theo Giấy chứng nhận số CR863883, số vào sổ cấp GCN: CTs194177 do Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 23/9/2019). Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 12/8/2020 tại VPCC Trần Văn H1. Đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
* Đối với bị đơn là ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy phải chịu hậu quả pháp lý của việc không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 365, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phan Công T3 (theo Giấy chứng nhận số CR863883, số vào sổ cấp GCN: CTs194177 do Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 23/9/2019). Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 12/8/2020 tại VPCC Trần Văn H1. Đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các nguyên tắc xét xử, đảm bảo các bên đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, việc hỏi và tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành khách quan, đúng trình tự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, vắng mặt lần hai, không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 463, 466 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 11 tháng 7 năm 2024 là: dư nợ gốc 320,874,382₫ lãi 101,687,351(Lãi trong hạn 14,441,092; Lãi quá hạn 87,246,259đ, L1 chậm trả 11,026,257 đ; Tổng cộng là 433,587,990 đ; Lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 trên số nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp bị đơn không trả được nợ thì xử lý tài sản đã thế chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng :
[1.1].Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4; cùng hộ khẩu thường trú tại: Tổ G K, Hòa Hiệp B, L, TP., nên vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về hợp đồng dân sự (Hợp đồng tín dụng) theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội Dung tranh chấp:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 13 tháng 08 năm 2020 Ngân hàng và vợ chồng ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 có ký Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn, thời hạn vay 120 tháng theo Hợp đồng cho vay số LN2007312621591 ngày 13/8/2020 và khế ước nhận nợ số ST0247/2019/KUNN-CN và Hợp đồng thế chấp tài sản ký ngày 12/8/2020 tại VPCC Trần Văn H1. Đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật, được thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự phù hợp với các điều 116, 117, 119 và Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 95 Luật đất đai nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch.
Tuy nhiên trong quá trình vay bị đơn ông Phan Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T4 đã trả được gốc 79,125,618đ; lãi 79,727,479, ông T3, bà T4 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V2 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên nên khoản vay đã chuyển quá hạn từ ngày 15/09/2022 dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, công văn đôn đốc nhưng ông ông T3, bà T4 vẫn chay lỳ không thanh toán cho ngân hàng.
Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông T3, bà T4 trả số tiền vay nói trên là có căn cứ, phù hợp với Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010 và Điều 463 và 466 của Bộ Luật dân sự 2015; Nên HĐXX buộc bị đơn ông T3, bà T4 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 11 tháng 7 năm 2024 là: dư nợ gốc 320,874,382₫ lãi 101,687,351(Lãi trong hạn 14,441,092; Lãi quá hạn 87,246,259đ, L1 chậm trả 11,026,257 đ; Tổng cộng là 433,587,990 đ; Lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 theo mức lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký.
[2.2]. Nếu trong trường hợp ông T3, bà T4 không trả số tiền nói trên hoặc trả không đầy đủ thì tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền nhà với đất tại thửa số 365, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phan Công T3 (theo Giấy chứng nhận số CR863883, số vào sổ cấp GCN: CTs194177 do Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 23/9/2019). Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 12/8/2020 tại VPCC Trần Văn H1 thì cũng được xử lý phát mãi tài sản thế chấp theo thỏa thuận tại Điều 6 của Hợp đồng thế chấp ký ngày 12/8/2020 và theo Điều 299 và 320, 325 của Bộ luật dân sự và Điều 95 Luật đất đai để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp tên ông T3, bà Thanh thanh t xong khoản vay nói trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho ông T3, bà T4.
[3]. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân Hàng nên ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4 phải chịu án phí sơ thẩm là: 21.343.520 đ (Hai mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi ba ngàn, năm trăm hai mươi đồng) ông T3, bà T4 phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí.
[4]. Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 (ba triệu đồng) do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên ông T3, bà T4 phải chịu, theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010;
- - Căn cứ vào các Điều 299, 320, 325, 463, 466 Bộ Luật Dân sự 2015; Điều 95 Luật đất đai 2013;
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V (V2) đối với ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4.
Xử: Buộc ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc Thanh thanh t tiền vay cho Ngân hàng (V2) tạm tính đến ngày 11 tháng 7 năm 2024 tổng cộng là dư nợ gốc 320,874,382₫ lãi 101,687,351(Lãi trong hạn 14,441,092; Lãi quá hạn 87,246,259đ, L1 chậm trả 11,026,257 đ; Tổng cộng là 433,587,990 đ. (Bốn trăm ba mươi ba triệu, năm trăm tám mươi bảy ngàn, chín trăm chín mươi ngàn đồng).
Lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 trên số nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2007312621591 ngày 13/8/2020, trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kì của Ngân hàng cho vay thì lãi suất của khách hàng vay tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Nếu Trong trường hợp ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4 không trả số tiền nói trên hoặc trả không đầy đủ thì tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa số 365, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phan Công T3 (theo Giấy chứng nhận số CR863883, số vào sổ cấp GCN: CTs194177 do Sở Tài Nguyên Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 23/9/2019) theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 12/8/2020 tại VPCC Trần Văn H1 thì cũng được xử lý phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ
Trường hợp tên ông T3 và bàThanh thanh toán xong khoản vay nói trên cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho ông T3 và bàThanh.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 21.343.520 đ (Hai mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi ba ngàn, năm trăm hai mươi đồng) ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4 phải chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng V (V2) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.800.028 đồng (Chín triệu, tám trăm ngàn, không trăm hai mươi tám đồng) theo biên lai thu số 397 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
3. Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 (ba triệu đồng) ông Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4 phải chịu. Ngân hàng đã chi xong, nên Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng).
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Phan Công T3 và Nguyễn Thị Ngọc T4 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Ký Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng
