|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 11 - 6 - 2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Trường;
Ông Đoàn Trung Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Trịnh Văn C, sinh năm 1989; tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Vũ Đ và bà Vũ Thị M; chung sống như vợ chồng với chị Đinh Thị L, có 01 con; tiền án: Ngày 25-4-2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản (Nộp án phí phúc thẩm ngày 22-3-2024); ngày 06-9-2022 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26-3-2014 bị Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 22-6-2017 bị Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ xử phạt 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2022 Bị UBND huyện G xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi đốt pháo; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-01-2024, hiện nay đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 04-01-2024, tổ công tác của Công an thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định tuần tra tại khu vực đê sông H thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện G phát hiện Trịnh Văn C đang đi bộ một mình, có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với C. Quá trình kiểm tra, C đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 túi ni-lông màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng C cất giấu trong túi quần bên phải phía trước đang mặc. C khai nhận đó là H và ma túy đá của C vừa mua, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C; thu giữ 01 gói chứa chất bột dạng cục màu trắng, 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “M1”, 01 điện thoại di động Nokia, 01 điện thoại di động Realme, 170.000 đồng tiền Ngân hàng N và bàn giao hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng Trịnh Văn C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số: 245/KL-KTHS ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
- “- Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Khối lượng mẫu: 0,152 gam.
- - Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi ni lông màu trắng, được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Metaphetamine. Khối lượng mẫu: 0,135 gam”.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trịnh Văn C, C khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 04-01-2024, C đi nhờ xe của người đi đường không quen biết đến khu vực chợ thuộc xã G, huyện G mua của một người đàn ông C không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng và 01 túi Metaphetamine với giá 200.000 đồng để sử dụng.
Bản cáo trạng số: 43/CT-VKSGT ngày 17-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố bị cáo Trịnh Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trịnh Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trịnh Văn C từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
2
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại khu vực đê sông H thuộc tổ dân phố Đ, trị trấn Ngô Đồng, huyện G, tỉnh Nam Định, Trịnh Văn C có hành vi cất giấu trái phép 0,152 gam Heroine và 0,135 gam Metaphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Trịnh Văn C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tại bản án ngày 06-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xác định Trịnh Văn C phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”, tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo chưa được xoá án tích nên lần vi phạm này của Trịnh Văn C được coi là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, hành vi của Trịnh Văn C đã phạm tội phạm “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ Luật Hình sự, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo góp phần gây ra sự mất ổn định trật tự xã hội, duy trì và tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội phát triển làm ảnh hưởng, giảm sút sức lao động trong toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng nhiều lần bị xử lý hình sự, bị xử phạt hành chính; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo thành khẩn khai báo,
3
ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trịnh Văn C, hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung nên xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, để cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trịnh Văn C là người nghiện ma tuý, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Realme và số tiền 170.000 đồng đã thu giữ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của C, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho gia đình bị cáo là phù hợp.
[8] Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ: Quá trình điều tra không đủ căn cứ kết luận ai là người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xem xét.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trịnh Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trịnh Văn C 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04-01- 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả mẫu vật sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 60/2024 ngày 17-4-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trịnh Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăn nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4
- Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trịnh Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |
5
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trịnh Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trịnh Văn C 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04-01- 2024.
