Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC CƠ

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hùng Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Đình Hưng; Nghề nghiệp: Cán bộ; Nơi công tác: Hội khuyến học huyện Đức Cơ;
  2. Bà Lê Thị Cần; Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Thanh V (tên gọi khác: Ú), sinh ngày 28/10/1996 tại tỉnh Đăk Lăk; Nơi thường trú: Thôn M, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Đàm Thị L; bị cáo có vợ là bị cáo Rơ Mah H và có 02 con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  2. Rơ Mah H, sinh ngày 02/5/1997 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpuih S và bà Rơ Mah H1; bị cáo có chồng là bị cáo Hoàng Thanh V và có 02 con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  3. Rơ Châm K, sinh ngày 23/7/2001 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpuih K1 và bà Rơ Châm H2; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  4. Rơ Lan H3, sinh ngày 15/10/1983 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Rơ Mah B (đã chết) và bà Rơ Lan H4; bị cáo có chồng tên Ksor R (đã chết) và có 03 con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  5. Rơ Lan H5, sinh ngày 03/11/2006 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor R (đã chết) và bà Rơ Lan H3; bị cáo chưa có chồng, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  6. Siu Ký (tên gọi khác: Siu Kỹ) sinh ngày 08/02/2004 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng Triêl, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Siu H6 và bà Siu H7; bị cáo vợ tên Ksor H8 và có 01 con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  7. Y Phôn Ê Ban, sinh ngày 01/7/1995 tại tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpuih B1 (đã chết) và bà H9 Ê Ban (đã chết); bị cáo có vợ tên Siu H10 và có 01con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (bị cáo bị tai nạn giao thông, không thể có mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  8. Kpuih Tai (tên gọi khác: Kpuih T1), sinh ngày 06/6/1998 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Làng Nú, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở hiện nay: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Rlan T2 và bà Kpuih H11; bị cáo có vợ tên Rơ Châm H12 và có 01 con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tốt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Bị cáo Rơ Lan H5 thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đều từ chối người bào chữa.

Đại diện gia đình bị cáo Rơ Châm H13: Là bị cáo Rơ Lan H3 (mẹ của bị cáo H13), có mặt;

- Bị hại: Ông Phạm Đình T3, địa chỉ: Làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Mai Thị V1, địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  2. Rơ Châm H12, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  3. Rơ Mah N, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có mặt);
  4. Rơ Mah T4, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  5. Rơ Lan H14, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  6. Ông Kpuih S, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  7. Bà H'Jet Ê Ban, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  8. Siu L1, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  9. Ksor H15, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);
  10. Rơ Châm H2, địa chỉ: Làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có đơn vắng mặt);

- Người phiên dịch: Ông Rơ Lan H16, địa chỉ: Làng P, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 31/8/2023, Hoàng Thanh VRơ Châm K đi chơi từ xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai về và có đi ngang qua vườn khoai lang của ông Phạm Đình T3, tại khu vực làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Sau khi về nhà thì Rơ Châm K, Rơ Lan H3, Siu K2Y Phôn Ê Ban, đến nhà của V để chơi. Tại đây, V rủ các đối tượng đi trộm khoai lang, V nói “có vườn khoai lang của anh T3 tại làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai chuẩn bị thu hoạch nếu ai muốn đi trộm cắp khoai thì tập trung tại cổng làng T vào 19 giờ hôm nay để cùng đi”. Khi nghe vậy Siu K2 rủ theo Rơ Mah T4 (sinh năm 2008), đi cùng. Còn Rơ Lan H17' Yan đi về nhà lấy dụng cụ thì Rơ Lan H5 (là con của Y) thấy vậy thì xin đi theo. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, các đối tượng, gồm: Rơ Lan H17' Yan, Rơ Lan H17' O, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2, Rơ Mah T4, Rơ Mah H18' SũiHoàng Thanh V mang theo bao tải, gùi tập trung tại C làng T chuẩn bị đi theo V để trộm cắp củ khoai. Lúc này, Kpuih T5Rơ Châm H19' Sin cùng trú tại làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai đi cạo mủ cao su về thì thấy vậy có hỏi những người này đi đâu thì Rơ Châm K (là em vợ của T5) nói đi bới trộm khoai lang, nghe vậy T5 cùng vợ về nhà lấy bao tải rồi cùng đi theo nhóm của V đến vườn khoai lang tại làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Sau khi tới nơi các đối tượng giấu xe máy ở vườn cao su gần đó và chờ cho trời tối rồi vào vườn bới trộm củ khoai lang.

Sau khi, trộm cắp được 30 kg khoai lang thì Kpuih T5Rơ Châm H12 về trước, tiếp theo Rơ Lan H3 cùng Rơ Mah T4 cũng đi về. Các đối tượng còn lại tiếp tục bới trộm củ khoai lang sau đó mang đến nhà của bà Mai Thị V1 (địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) và để ở đó. Đến sáng ngày 01/9/2023, V, K2, Y PT4 đến nhà bà V1 để bán số khoai trộm cắp được. Quá trình bán V đã cân số khoai của V và H' Sũi được 68 kg; T4 và Ký bới chung được 39 kg; Y P được 29 kg; còn khoai của H' O và K thì V đã cân dùm cho 02 ngời này được lần lượt là 35 kg và 40 kg. Bà Mai Thi V2 đã trả cho V 650.000 đồng, T4 và Ký 350.000 đồng, Y P 250.000 đồng, H5 300.000 đồng và K 350.000 đồng (Số tiền này V đã cầm và về đưa lại cho KH3 là mẹ của H5). Còn H' Yan trộm được 10 kg củ khoai lang mang ra chợ bán cho người (không rõ lai lịch) được 80.000 đồng; Tai mang số khoai của T5H12 trộm cắp được bán cho một người thu mua khoai ở dọc đường được 30 kg được 300.000 đồng. Tổng trọng lượng củ khoai lang các đối tượng trộm cắp được vào ngày 31/8/2023 là 251 kg khoai lang.

Đến ngày 01/9/2023, các đối tượng gồm: Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Mah N1 (sinh năm 2005, là em của Rơ Mah H), Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, K, Y Phôn Ê BanSiu K2 tiếp tục tập trung tại làng T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để đi trộm cắp củ khoai lang của gia đình ông Phạm Đình T3, tại đây các đối tượng trộm cắp được 126 kg củ khoai lang thì bị ông Nguyễn Thế K3 (là người bảo vệ vườn khoai lang) phát hiện nên đã trình báo Công an xã I, huyện Đ, Gia Lai.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận:

Tại thời điểm ngày 01/9/2023, 126 kg củ khoai lang có giá trị định giá là: 1.890.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận:

Tại thời điểm ngày 31/8/2023, 251 kg củ khoai lang có giá trị định giá là: 3.765.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 35/CT- VKS ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2, Kpuih T5 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng. Đề nghị tuyên bố các bị cáo Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2Kpuih Tai phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh V từ 09 đến 12 tháng tù.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Rơ Mah H từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo;

    Xử phạt bị cáo Rơ Lan H3 từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo;

    Xử phạt bị cáo Rơ Châm K từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo;

    Xử phạt bị cáo Y P Ê Ban từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo;

    Xử phạt bị cáo Siu K2 từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo;

    Xử phạt bị cáo Kpuih T5 từ 04 đến 06 tháng tù, cho hưởng án treo.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 98, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Rơ Lan H5 từ 04 đến 06 tháng tù, cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính hợp pháp của tài liệu chứng cứ: Có cơ sở để nhận định các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[3] Các bị cáo thừa nhận có hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ để nhận định:

Ngày 31/8/2023 Hoàng Thanh V cùng với Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2, Rơ Mah T4 trộm cắp 221 kg củ khoai lang của ông Phạm Đình T3 tại làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, trị giá 3.315.000 đồng. Vợ chồng Kpuih T5, R H’Sin tự ý đi theo nhóm của Hoàng Thanh V và trộm cắp 30 kg củ khoai lang của ông Phạm Đình T3, trị giá 450.000 đồng.

Ngày 01/9/2023, Hoàng Thanh V tiếp tục cùng với Rơ Mah H18' Sũi, Rơ Lan H3, Rơ Lan H17' O, Rơ Châm K, K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2Rơ Mah N1 trộm cắp 126 kg củ khoai lang của ông Phạm Đình T3, trị giá 1.890.000 đồng.

Hành vi của Rơ Châm H12Kpuih T5 được thực hiện độc lập và không chịu trách nhiệm pháp lý chung với Hoàng Thanh V và các đồng phạm khác về hành vi trộm cắp vào ngày 31/8/2023. Ngày 01/9/2023, H12 không tham gia trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản trộm cắp của H12 là 450.000 đồng. Do đó, hành vi của H12 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Rơ Mah T4: Vào ngày 31/8/2023, T4 cùng đồng bọn trộm cắp 221 kg khoai lang, trị giá 3.315.000 đồng, trong đó, bản thân T4 trộm cắp được 39 kg khoai lang. Tuy nhiên căn cứ Bản kết luận giám định pháp y độ tuổi số 54/C09C-Đ3 ngày 17/01/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng xác định độ tuổi của Rơ Mah T4 là sinh vào ngày 31/01/2008. Như vậy tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ngày 31/8/2023), T4 chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Đối với Rơ Mah N: Vào ngày 01/9/2023 cùng đồng trộm cắp 126 kg khoai lang, trị giá 1.890.000 đồng. Rơ Mah N được xác định là người chưa có tiền sự. Do đó, hành vi của N chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó Cáo trạng chỉ truy tố đối với Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H17' Yan, Rơ Lan H17' O, Rơ Châm K, Y Phôn Ê BanSiu K2, Kpuih Tai, không truy tố Rơ Châm H12, Rơ Mah T4, Rơ Mah N là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2Kpuih T5 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Như vậy Cáo trạng số 35/CT- VKS ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Thấy rằng, quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác đều phải được xử lý. Các bị cáo Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2, Kpuih T5 đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại Phạm Đình T3. Hành vi này của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự.

Đây là vụ đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự phân công, phân nhiệm cụ thể. Trong đó Hoàng Thanh V là người khởi xướng, rủ rê đồng bọn phạm tội, đồng thời là người thực hiện 02 lần trộm cắp nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tài sản mà bị cáo cùng đồng bọn trộm cắp là 347 kg khoai, thành tiền: 5.205.000 đồng; các bị cáo Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y P Ê B2Siu K2 là đồng phạm với vai trò là người thực hành và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 02 lần trộm cắp thành tiền là 5.205.000 đồng. Riêng đối với Kpuih T5 là đồng phạm với vai trò người thực hiện trong lần trộm cắp vào ngày 01/9/2023, phải chịu trách nhiệm hình sự đối 02 lần trộm cắp tổng số 156 kg khoai, thành tiền 2.340.000 đồng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại không lớn là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Tất cả các bị cáo đều có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Tất cả các bị cáo đều có 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng. Tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn. Tất cả đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Trong đó, có một số bị cáo có quan hệ gia đình gồm: Hoàng Thanh VRơ Mah H là vợ chồng, Rơ Lan H3Rơ Lan H5 là mẹ con. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp, là người dân lao động nhất thời phạm tội.

Bị cáo Rơ Lan H5 là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội (Khi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 8 tháng 28 ngày) nên khả năng nhận thức còn hạn chế. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Rơ Lan H5 cần áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cần thiết xử Hoàng Thanh V hình phạt tù ở mức cao nhất so với các bị cáo còn lại, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Các bị cáo còn lại cần thiết phạt tù ở mức thấp và cho hưởng án treo là phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật, với đạo đức xã hội. Giao các bị cáo cho UBND xã nơi các bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Xét không cần thiết phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Đối với hành vi của những người liên quan:

- Bà Mai Thị V1, là người đã mua khoai của các bị cáo: Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Châm K, Rơ Lan H5, Y P Ê Ban, Siu K2 sau đó bán lại cho người khác để kiếm lời. Quá trình mua bán khoai bà V1 hoàn toàn không biết số khoai trên là do các đối tượng trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của bà Mai Thị V1 không vi phạm pháp luật hình sự.

- Đối với 02 người mua tài sản của Kpuih T5Rơ Lan H3. Quá trình điều tra không có căn cứ để xác định ai là người mua số khoai lang trên nên không có căn cứ để điều tra, xử lý hành vi của 02 người này.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo và các đối tượng liên quan đã trộm cắp của ông Phạm Đình T3 tổng cộng 377 kg khoai lang, trị giá 5.655.000 đồng. Quá trình điều tra đã thu hồi, trả lại cho ông T3 126 kg củ khoai lang. Số khoai lang còn là 251kg, trị giá 3.765.000 đồng không thu hồi được. Bị hại Phạm Đình T3 không yêu cầu các bị cáo và các đối tượng liên quan phải bồi thường về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án:

Vật chứng vụ án gồm: 03(ba) chiếc gùi; 09 (chín) bao tải đã qua sử dụng, một số bao bị rách, bẩn.

Xét các vật chứng này có giá trị không lớn, cần thiết tịch thu tiêu hủy.

Các vật chứng còn lại quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2, Kpuih Tai phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Rơ Mah H 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024);

Xử phạt bị cáo Rơ Lan H3 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024);

Xử phạt bị cáo Rơ Châm K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024);

Xử phạt bị cáo Y P Ê Ban 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024);

Xử phạt bị cáo Siu K2 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024);

Xử phạt bị cáo Kpuih T5 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024);

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 98, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Rơ Lan H5 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2024).

Giao các bị cáo Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Kpuih T5 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, giao bị cáo Siu K2 và bị cáo Y P Ê Ban cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nơi các bị cáo thường trú giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 03(ba) chiếc gùi có đặc điểm:
    • + 01 chiếc gùi được làm băng tre có quai đeo bằng vải dù và dây thừng, gùi cao 44,5 cm, miệng gùi hình tròn có đường kính 32cm;
    • + 01 chiếc gùi làm bằng tre và sắt có quai đeo bằng vải dù và dây thừng, gùi cao 46 cm, miệng gùi hình tròn có đường kính 32cm;
    • + 01 chiếc gùi làm bằng tre và sắt có quai đeo bằng vải dù và dây thừng, gùi cao 43,5cm, miệng gùi hình tròn có đường kính 32cm.
  • - 09 (chín) bao tải đã qua sử dụng, một số bao bị rách, bẩn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Cơ).

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Buộc các bị cáo Hoàng Thanh V, Rơ Mah H, Rơ Lan H3, Rơ Lan H5, Rơ Châm K, Y Phôn Ê Ban, Siu K2, Kpuih Tai mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

5. Các vấn đề khác: Các bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, của người vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nơi nhận:

  • - VKS; CA;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người LQ;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lại Hùng Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Hoàng Thanh Vũ 12 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger