Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v “Ly hôn và tranh chấp

nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chu Y

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Thanh Sơn;
  • Ông Huỳnh Thanh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh V kết hôn và đăng ký kết hôn số 0178 ngày 12/9/2017 tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, đến tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gổ, cãi vả nhau đến tháng 4 năm 2024 thì ly thân. Trong thời gian ly thân không có hàn gắn gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 18/7/2018 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 19/8/2019. Hiện tại con chung đang sống chung với chị H. Khi ly hôn chị yêu cầu giao con chung cho chị tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/ tháng bắt đầu từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn- anh Nguyễn Minh V trình bày tại bản tự khai ngày 06/8/2024 như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với trình bày tại đơn khởi kiện của chị H. Không có ý kiến về quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Anh V đồng ý giao cháu N và cháu Q cho chị H nuôi dưỡng, chấp nhận yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con của chị H, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng, 02 con là 6.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2024 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động sinh sống được.

Về tài sản chung và nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  • - Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H và anh V được ly hôn;
  • - Về con chung: giao con chung cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh V cấp dưỡng nuôi con, anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng, 02 cháu là 6.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2024 cho đến khi 02 cháu trưởng thành và có khả năng lao động sinh sống được.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết;
  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị H và anh V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh V theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân:

[2.1] Chị H và anh V trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G vào năm 2017 nên hôn nhân của chị H và anh V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[2.2] Theo chị H mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng chung sống tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gổ cãi vả nhau từ tháng 01 năm 2024, ly thân từ tháng 4 năm 2024 đến nay trong thời gian ly thân cả hai không có giải pháp khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh V, anh V đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian chị H và anh V mâu thuẫn đã lâu, trong thời gian ly thân anh chị không có hàn gắn hôn nhân, do đó có cơ sở cho rằng vợ chồng anh chị không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, không còn khả năng đoàn tụ nên xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: xét thấy chị H và anh V thống nhất giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 18/7/2018 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 19/8/2019 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh V cấp dưỡng nuôi con của chị H, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng, 02 con là 6.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2024 cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình nên ghi nhận. Anh Nguyễn Minh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị H và anh V không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị H và anh V xác định không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng, anh V phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

[7] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc H đối với anh Nguyễn Minh V.

Chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Minh V.

2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 18/7/2018 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 19/8/2019 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh V cấp dưỡng nuôi con của chị H, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng, 02 con là 6.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2024 cho đến khi đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Minh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Nguyễn Minh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012306 ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp xong tiền án phí.

Anh Nguyễn Minh V phải chịu 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Nguyễn Minh V có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi các đương sự cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Chi cục THA Bến Cầu;
  • - UBND thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Chu Y

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Nguyễn Thị Ngọc H với Nguyễn Minh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger