|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 06/6/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài
- Ông Trần Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/HSST ngày 08/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 15/5/2024 đối với bị cáo:
Trần Thế S, sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn E, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Nơi ở hiện nay: Tổ D, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Trần T (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con đầu; H1 và tên vợ: Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1987; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 09/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng khác:
- * Người bào chữa cho bị cáo Trần Thế S: Ông Cao Anh S1 và bà Vũ Thị Thương T2 – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
- * Bị hại: Công ty TNHH V; địa chỉ: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 – Giám đốc (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tuấn S2 – Luật sư Công ty L2 chi nhánh B1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lê Thị P, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- - Bà Vũ Thị Kim N, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- - Ông Dương T3, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- - Ông Nguyễn Quốc N1, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- - Bà Trương Thị Thanh H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- - Ông Từ Dương N2, sinh năm 1974; địa chỉ: xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- - Ông Hồ Vĩnh Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: C L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- - Ông Trần Kim D1, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH V, địa chỉ tại Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (viết tắt là Công ty V) do bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1971) làm Chủ tịch kiêm Giám đốc là Nhà phân phối xi măng trên địa bàn các tỉnh Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu cho Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Công ty TNHH V1, địa chỉ tại số A - A L, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là Công ty V1) theo Hợp đồng mua bán và phân phối xi măng số 1017921/HĐMBXM ngày 30/11/2021.
Trần Thế S là nhân viên bán hàng của Công ty V1 (từ ngày 13/9/2021), có nhiệm vụ giám sát bán hàng và marketing giữa Công ty V1 với Công ty V trên địa bàn các tỉnh Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở nhiệm vụ, S tiếp nhận thông tin từ Công ty V và điều phối xi măng đến khách hàng của Công ty V; sau đó S hỗ trợ Công ty V giám sát việc thanh toán của khách hàng nên giữa S và bà L quen biết nhau. Quá trình kinh doanh, bà L nhờ S tìm kiếm khách hàng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và trao quyền điều động xe của Công ty V nhận xi măng từ Công ty V1 giao cho khách hàng và thu tiền bán xi măng từ khách hàng giao lại cho Công ty V.
Do S kinh doanh bất động sản bị thua lỗ, nợ tiền của nhiều người nên sau khi đã thu tiền mua xi măng từ khách hàng của Công ty V trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì S không giao nộp mà nói dối với kế toán của Công ty V là khách hàng chưa trả tiền nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty V để trả nợ cá nhân. Kết quả điều tra xác định từ tháng 8/2022 đến 01/2023, S đã thu tiền của 11 khách hàng của Công ty V trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, với số tiền 571.040.000 đồng nhưng không giao nộp mà dùng thủ đoạn gian dối như đã nêu trên để chiếm đoạt.
Cụ thể:
- Khách hàng Dương T3: Từ tháng 08/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 100.275.000 đồng;
- Khách hàng Quốc Khuông: Từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 83.815.000.000 đồng;
- Khách hàng Nguyên Dương: Từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 102.075.000 đồng;
- Khách hàng Trương Văn Q: Từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 120.535.000 đồng;
- Khách hàng Hồ Hữu T4: Từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 67.406.000 đồng;
- Khách hàng Vinh Danh: Từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 33.400.000 đồng;
- Khách hàng Lê Thị P: Từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2022, S đã thu 25.000.000 đồng;
- Khách hàng Cao Trí: Từ tháng 12/2022 đến tháng 01/2023, S đã thu 13.000.000 đồng;
- Khách hàng Vinh Đức: Từ tháng 12/2022 đến tháng 01/202, S đã thu 5.590.000 đồng;
- Khách hàng Kim D1: Từ tháng 12/2022 đến tháng 01/2023, S đã thu 5.000.000 đồng;
- Khách hàng Tuấn A: Tháng 01/2022, S đã thu 14.584.000 đồng.
Cuối tháng 12/2022, bà L phát hiện xi măng giao cho S bán cho khách hàng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có số dư nợ lớn nên đã cho nhân viên Công ty V đi cùng với S đối chiếu với khách hàng thì phát hiện sự việc, sau đó yêu cầu S giao nộp lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 571.040.000 đồng cho Công ty V. S trả 70.000.000 đồng rồi mất khả năng hoàn trả nên bà L đã tố cáo S trước pháp luật. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối với S để điều tra về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, S đã khai nhận hành vi, thủ đoạn chiếm đoạt tiền của bản thân như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về diễn biến sự việc và số tiền chiếm đoạt.
* Về trách nhiệm dân sự:
- D đã giao nộp 70 triệu đồng trước khi bị khởi tố nên bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo S tiếp tục bồi thường số tiền 501.040.000 đồng.
- Ngày 11/01/2024, bà Trần Thị Ánh T1 (vợ bị cáo S) tự nguyện nộp số tiền 100.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để khắc phục hậu quả cho bị cáo S.
* Vật chứng, tài liệu thu giữ:
Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Thị L giao nộp tài liệu đối chiếu công nợ 11 khách hàng của Công ty V mua xi măng qua S còn nợ đối với Công ty V và các tin nhắn Zalo thể hiện số lượng xi măng S giao cho 11 khách hàng, hoá đơn số lượng xi măng nhận từ Công ty V1. Tất cả tài liệu này được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
2. Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSBRVT-P2 ngày 01/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Thế S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa:
3.1. Trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Bị cáo Trần Thế S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bà Trần Thị Ánh T1 (vợ bị cáo S) tự nguyện nộp số tiền 100.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để khắc phục hậu quả cho bị cáo S. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo tác động gia đình bồi thường thêm cho bị hại 200.000.000 đồng, bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hàng năm bị cáo đều được Công ty tặng thưởng nhiều giấy khen đạt thành tích lao động xuất sắc đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 175; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thế S mức án từ 07 đến 08 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo S tiếp tục bồi thường số tiền 201.040.000 đồng (hai trăm lẻ một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng) cho Công ty TNHH V.
* Về xử lý vật chứng: Giao trả cho Công ty TNHH V 100.000.000 đồng (Hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đang quản lý).
3.2. Luật sư Cao Anh S1 và Vũ Thị Thương T2 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:
Về mặt tội danh: Căn cứ vào các lời khai của bị cáo, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, luật sư đồng ý về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát khi truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết sau:
- + Thứ nhất, về nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh và mức độ phạm tội của bị cáo: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mất sớm, mẹ thường xuyên ốm đau, bệnh tật, phải điều trị bệnh kéo dài và rất tốn kém. Bị cáo là lao động chính nuôi vợ và con nhỏ, ngoài công việc tại Công ty V1, bị cáo còn tham gia kinh doanh bất động sản trong bối cảnh đại dịch C - 19 vừa mới chấm dứt nên lâm vào nợ nần. Bị cáo phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng. Trước đó, bị cáo tham gia phong trào hỗ trợ mùa dịch Covid, được Công ty M tặng giấy khen đạt thành tích Xuất sắc trong lao động sản xuất kinh doanh. Khi sự việc bị phát hiện, bị cáo đã trả cho chị L 70 triệu trước khi chị L làm đơn tố giác cho thấy ban đầu bị cáo chưa có ý thức chiếm đoạt tiền của bị hại.
- + Thứ hai, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trước đó đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả. Đặc biệt tại phiên toà phúc thẩm, gia đình bị cáo bồi thường thêm 200.000.000 đồng, đồng thời bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, xử phạt bị cáo Trần Thế S hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề.
3.3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại – Luật sư Nguyễn Tuấn S2 trình bày quan điểm:
Về tội danh: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Về hình phạt: Không có ý kiến tranh luận với luật sư đồng nghiệp, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bị hại là bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, buộc bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt còn lại.
3.4. Bị cáo Trần Thế S: Nhất trí với luật sư, không bào chữa bổ sung.
3.5. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
4. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Trần Thế S là nhân viên của Công ty V1 được giao nhiệm vụ giám sát bán hàng và marketing giữa Công ty V1 với Công ty V do bà Nguyễn Thị L làm Chủ tịch kiêm Giám đốc. S được bà L tín nhiệm nhờ tìm kiếm khách hàng, điều xe của Công ty V đến Công ty V1 nhận xi măng giao cho khách hàng và thu tiền khách hàng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giao lại cho Công ty V. Bị cáo không phải là nhân viên Công ty V, với tư cách cá nhân bà L tin tưởng nhờ bị cáo. Do S kinh doanh bất động sản và bị thua lỗ, nợ tiền của nhiều người nên từ tháng 8/2022 đến 01/2023, sau khi đã thu tiền mua xi măng từ 11 khách hàng của Công ty V trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng số tiền 571.040.000 đồng thì S không giao nộp về Công ty V mà nói dối là khách hàng chưa trả tiền nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty V để trả nợ cá nhân.
Do đó, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Trần Thế S đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 39/CT-VKSBRVT-P2 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thế S là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Công ty V. Bị cáo đã trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được việc thực hiện hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức án phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời bà Trần Thị Ánh T1 (vợ bị cáo S) tự nguyện nộp số tiền 100.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để khắc phục hậu quả. Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo tác động gia đình bồi thường thêm cho bị hại 200.000.000 đồng, bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hàng năm bị cáo đều được Công ty tặng thưởng nhiều giấy khen đạt thành tích lao động xuất sắc đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 571.040.000 đồng. Trước khi khởi tố vụ án, bị cáo trả cho bị hại 70.000.000 đồng; trong quá trình điều tra gia đình bị cáo đã nộp 100.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để bồi thường cho bị hại. Tại phiên toà, gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường trực tiếp cho bị hại 200.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền bị cáo đã bồi thường là 370.000.000 đồng, số tiền thiệt hại còn lại 201.040.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo bồi thường số tiền trên cho bị hại.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Giao trả cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang quản lý.
- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án tài liệu đối chiếu công nợ 11 khách hàng của Công ty V mua xi măng qua S còn nợ đối với Công ty V và các tin nhắn Zalo thể hiện số lượng xi măng S giao cho 11 khách hàng, hoá đơn số lượng xi măng nhận từ Công ty V1.
[7] Về án phí: Bị cáo Trần Thế S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Thế S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: khoản 4 Điều 175; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: T (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 09/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Trần Thế S bồi thường cho Công ty TNHH V số tiền là 201.040.000 đồng (hai trăm lẻ một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao trả cho Công ty TNHH V số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) (Hiện do Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đang quản lý theo biên lai thu tiền số 0000092 ngày 11/01/2024).
4. Án phí sơ thẩm:
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thế S nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thế S nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng).
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thế S Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
