|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/DS-ST
Ngày: 05-7-2024
V/v tranh chấp “hụi và hợp
đồng mua bán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Minh Quang;
- Ông Vũ Xuân Chính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Võ Tiến Q, sinh năm 1970 (xin vắng) và bà Trần Ngọc N, sinh năm 1971 (xin vắng).
Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968 (tên gọi khác Đỗ Kim N2, xin vắng) và ông Lê Văn N3, sinh năm 1965 (tên gọi khác T, vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Từ năm 2013, vợ chồng bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 có làm chủ hụi, trong đó vợ chồng ông Q, bà N là hụi viên tham gia các dây hụi sau:
Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 25/12/2014 âm lịch gồm 32 phần hụi, ông Q, bà N tham gia 01 phần hụi. Danh sách hụi ghi tên “H ghe hàng”. Ông Q, bà N đóng được 24 kỳ x 01 phần hụi x 1.000.000 đồng = 24.000.000 đồng.
Dây hụi 300.000 đồng, mở ngày 10/6/2015 âm lịch, có 50 phần hụi, ông Q, bà N tham gia 01 phần hụi, danh sách hụi ghi tên “Ngân ghe hàng”. Ông Q, bà N đóng hụi được 13 kỳ x 01 phần hụi x 300.000 đồng = 3.900.000 đồng.
Do thời gian đã lâu nên ông Q, bà N không nhớ bà N1, ông N3 đình hụi vào ngày tháng năm nào. Ngày 25/02/2016 bà N1, ông N3 cam kết với hụi viên khui lại tất cả các dây hụi gồm 02 dây hụi 1.000.000 đồng, 02 dây hụi 500.000 đồng, 03 dây hụi 300.000 đồng và có ký tên xác nhận vào Tờ giao kèo hụi đề ngày 25/02/2016 nhưng trên thực tế bà N1, ông N3 không có khui hụi mà bà N1, ông N3 bỏ địa phương đi cho đến nay.
Ngoài ra vợ chồng bà N1, ông N3 có mua tạp hóa của ông Q, bà N nhiều lần còn nợ số tiền 4.300.000 đồng. Tiền nợ tạp hóa không có biên nhận nhưng ông Q, bà N có ghi sổ theo dõi.
Nay ông Q, bà N yêu cầu bà N1, ông N3 trả cho vợ chồng ông tổng số tiền còn nợ là 32.200.000 đồng, trong đó tiền hụi là 27.900.000 đồng, tiền nợ tạp hóa 4.300.000 đồng. Ngoài ra ông, bà không yêu cầu gì khác.
* Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Bà N1 xác nhận vợ chồng bà có làm chủ hụi tại địa phương, loại hụi có lãi, chủ hụi được hưởng hoa hồng, tiền lãi hụi dùng để chi tiêu phục vụ cuộc sống gia đình bà. Ông Q, bà N có tham gia hụi do vợ chồng bà làm chủ, do nhiều hụi viên hốt hụi mà không đóng lại hụi chết nên bà N1, ông N3 đã đình hụi đối với tất cả các dây hụi. Bà N1 xác nhận bà có ký tên vào Tờ giao kèo hụi nhưng do không có khả năng lấp hụi nên vợ chồng bà không khui hụi tiếp. Hiện nay vợ chồng bà còn nợ tiền hụi của ông Q, bà N tổng cộng là 27.900.000 đồng và có nợ tiền tạp hóa 4.300.000 đồng. Tổng cộng vợ chồng bà nợ ông Q, bà N số tiền 32.200.000 đồng. Bà đồng liên đới với ông N3 trả nợ số nợ này cho ông Q, bà N nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông N3 (chồng bà) đang bệnh ung thư nên chưa có khả năng.
* Đối với bị đơn ông Lê Văn N3: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông N3 không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q, bà N. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông N3 vẫn không tham gia.
Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
- - Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật nên không có kiến nghị.
- + Về nội dung: Căn cứ Điều 430, 440, 471, Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N. Buộc bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền hụi và tiền mua bán còn nợ cho ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N là 32.200.000 đồng, trong đó tiền hụi 27.900.000 đồng và tiền tạp hóa 4.300.000 đồng; Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị đơn ông Lê Văn N3 và Nguyễn Thị Như chịu 1.610.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 liên đới trả tổng số tiền hụi và tiền mua bán còn nợ là 32.200.000 đồng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hụi và hợp đồng mua bán tài sản.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N và bị đơn bà Nguyễn Thị N1 có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; ông Lê Văn N3 vắng mặt xét xử lần 2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N yêu cầu bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 liên đới trả cho ông, bà tổng số tiền nợ hụi và mua bán còn nợ là 32.200.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ năm 2013, ông Q, bà N có tham gia hụi của bà N1 và ông N3 làm chủ hụi, quá trình giải quyết vụ án bà N1 cũng thừa nhận hiện nay vợ chồng bà còn nợ tiền hụi ông Q, bà N tổng cộng là 27.900.000 đồng, đối với tiền tạp hóa bà N1 xác nhận vợ chồng bà có nợ tiền tạp hóa của ông Q, bà N số tiền 4.300.000 đồng nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét trách nhiệm trả nợ: Giao dịch nợ hụi và nợ tiền tạp hóa giữa các đương sự diễn ra trong thời kỳ hôn nhân của bà N1 và ông N3. Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/6/2024 bà N1 xác nhận thu nhập từ lãi hụi dùng để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình bà nên ông N3 phải liên đới với bà N1 chịu trách nhiệm thanh toán tiền hụi và tiền tạp hóa còn nợ cho ông Q, bà N tổng số tiền là 32.200.000 đồng, trong đó tiền hụi 27.900.000 đồng và tiền tạp hóa 4.300.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 27, 30, 37 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 471, 430, 440 Bộ luật Dân sự và
Điều 18, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N. Buộc bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N tổng số tiền còn nợ là 32.200.000 đồng, trong đó tiền hụi 27.900.000 đồng và tiền tạp hóa 4.300.000 đồng.
Kể từ ngày ông Q, bà N có đơn yêu cầu thi hành án trường hợp bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng bà N1, ông N3 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.610.000 đồng.
Nguyên đơn ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N không phải chịu án phí. Ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.
[4] Ý kiến của kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, Điều 471, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 18, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N về việc khởi kiện đòi tiền hụi, tiền mua bán còn nợ đối với bà Nguyễn Thị N1, ông Lê Văn N3.
- - Buộc bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N tổng số tiền còn nợ là 32.200.000 đồng (ba mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
- - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị N1 và ông Lê Văn N3 có nghĩa vụ nộp án phí là 1.610.000 đồng (Một triệu sáu trăm mười nghìn đồng).
- Ông Võ Tiến Q và bà Trần Ngọc N được nhận lại số tiền 805.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0016337 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
- - Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Võ Minh Quang Vũ Xuân C |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng N4 |
5
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi và hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi và hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hụi và hợp đồng mua bán
