TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 04 - 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Dương Quốc Trung
- Bà Trần Thị Bích Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 8 và ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Ngọc H, sinh năm 1984, tại tỉnh An Giang; Hộ khẩu thường trú: T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 06/12; Tôn giáo: Không; Con ông Trịnh Văn T và bà Trịnh Thị L; Chồng: Đã ly hôn; Con: Có 01 con sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C – T30, Công an Thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa của bị cáo: Ông Nguyễn Minh H1 - Luật sư Văn phòng luật sư Trương Thị H2, Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt)
Địa chỉ: H - 91 đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thế M, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
- Ông Phan Văn H3, sinh năm 1955 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Bé X, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Bà Đinh Cẩm L1, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 3 C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: L cư xá V, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 879/56/2 H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Trần Thị Hồng L2, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
- Ông Vũ Quốc T1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
- Bà Ngô Thị Tấn H4, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
- Ông Trịnh Ngọc Ẩ, sinh năm 1983 (Có mặt ngày 29/8/2024, vắng mặt ngày 04/9/2024)
Địa chỉ: B H, Khu phố A, Phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B Â, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 3 Ấp B, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: A đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 04/01/2024, Phạm Ngọc Đ, Nguyễn Thế M và Phan Văn H3 đến cơ sở xông hơi, massage, gội đầu Ngọc Hạ M1 để mua dâm nhân viên nữ nên H trực tiếp thỏa thuận nhận mỗi khách trả tiền 1.000.000 đồng nên Phan Văn H3 đã đưa cho H 3.000.000 đồng để cho Đ, M và H3 mua dâm. Khi nhận tiền xong, H đã bố trí các nhân viên nữ của cơ sở gồm: Nguyễn Thị Bé X bán dâm cho Đ tại phòng 02 (số D), Nguyễn Thị Bích P bán dâm cho M tại phòng 03 (số D) và Đinh Cẩm L1 bán dâm cho H3 tại phòng số 4 của cơ sở N. Sau khi bán dâm cho khách xong thì X, P và L1 sẽ gặp H để nhận 600.000 đồng/người, còn H hưởng 400.000 đồng/khách. Khi X, P và L1 đang quan hệ tình dục với Đ, M và H3 thì bị Công an bắt quả tang nên H chưa đưa tiền bán dâm cho X, P và L1. H đã nộp lại 3.000.000 đồng cho Cơ quan công an để phục vụ công tác điều tra.
Quá trình điều tra, H khai nhận: Từ tháng 9/2023, H sang nhượng lại Cơ sở xông hơi, massage, gội đầu Ngọc Hạ M1 của bà Trần Thị Hồng L2 do ông Vũ Quốc T1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không làm hợp đồng và H chưa từng gặp ông T1. H cũng không yêu cầu bà L2 đưa giấy phép kinh doanh cơ sở N Mây cho H giữ. Vì bà L2 nói H tiếp tục sử dụng giấy phép kinh doanh do ông T1 đứng tên để hoạt động kinh doanh. Hàng tháng, H đưa bà L2 1.000.000 đồng để trả công ông T1 đứng tên giấy phép kinh doanh, nếu bị Cơ quan chức năng kiểm tra cơ sở kinh doanh thì ông T1 sẽ xuống làm việc.
Đối với địa điểm chứa mại dâm, do hợp đồng thuê nhà giữa bà L2 và ông Nguyễn Văn Đ1 còn thời hạn (02 năm, kể từ ngày 12/02/2023) nên hàng tháng H sử dụng tài khoản số 030685, ngân hàng S (H đứng tên đăng ký) chuyển khoản 10.000.000đồng đến tài khoản số 6340205076425, mở tại ngân hàng A, mang tên Nguyễn Văn Đ1 để trả tiền mặt bằng. Tuy nhiên, H không nói cho bà L2 và ông Đ1 biết việc H chứa mại dâm tại cơ sở N.
Đối với các nhân viên tên X, P, L1 và H4 khi nhận vào làm tại cơ sở, H thỏa thuận công việc là massage kích dục hoặc bán dâm cho khách để lấy tiền, không có lương và không làm hợp đồng. Thời gian làm việc tại cơ sở hàng ngày từ 12 giờ đến 02 giờ sáng hôm sau. Nếu khách nam vào cơ sở có nhu cầu “mua vé số 1.000.000 đồng”/khách thì nhân viên nữ sẽ bán dâm cho khách nam, nhân viên nữ được hưởng 600.000 đồng và H được hưởng 400.000 đồng. Còn nếu khách nam “mua vé số 400.000 đồng” thì nhân viên nữ sẽ kích dục chứ không bán dâm cho khách, H và nhân viên nữ, hưởng mỗi người 200.000 đồng. Nếu khách cho thêm tiền (tiền bo) thì nhân viên nữ được nhận mà không phải chia cho H. Riêng bao cao su sử dụng để bán dâm cho khách nhân viên nữ tự chuẩn bị.
Quá trình hoạt động, H đã thu lợi bất chính khoảng 40.000.000 đồng. H không cưỡng bức, ép buộc gì nhân viên và cũng không thỏa thuận cho nhân viên bán dâm tại địa điểm nào khác.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Bé X, Nguyễn Thị Bích P, Đinh Cẩm L1 và Ngô Thị Tấn H4 đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc vào cơ sở Ngọc H5 Mây làm việc, thỏa thuận với H về việc bán dâm, kích dục cho khách mua dâm như đã nêu trên. Ngày 04/01/2024, X, P và L1 đang quan hệ tình dục với khách thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang nên X, P và L1 chưa được H đưa tiền mua dâm của khách. Riêng H4 tại thời điểm Công an bắt quả tang thì H4 chưa thực hiện hành vi bán dâm hay massage kích dục cho khách mua dâm do chưa có khách. Xương và P đã bán dâm được 02 lần còn L1 mới bán dâm lần đầu thì bị bắt.
Phạm Ngọc Đ, Nguyễn Thế M và Phan Văn H3 cũng đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc mua dâm như đã nêu trên. Phạm Ngọc Đ, Nguyễn Thế M và Phan Văn H3 không ép buộc, cưỡng bức nhân viên nữ tại cơ sở Ngọc Hạ M1 bán dâm.
Trần Thị Hồng L2 khai nhận: Ngày 12/02/2023, bà L2 thuê căn nhà tại địa chỉ số C đường N, Ấp B, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Đ1 để mở Cơ sở xông hơi, massage, gội đầu Ngọc Hạ M1, có hợp đồng thuê nhà. Tháng 03/2023, L2 nhờ ông Vũ Quốc T1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vì ông T1 có đăng ký thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 09/2023, L2 sang nhượng lại cơ sở kinh doanh N Mây cho H, hàng tháng H trả cho L2 1.000.000 đồng để trả công cho ông T1, L2 chưa đưa giấy phép kinh doanh cho H và không biết H chứa mại dâm tại cơ sở N.
Ông Vũ Quốc T1 khai nhận không nhận được lợi ích gì của H và không biết H chứa mại dâm tại cơ sở N.
Ông Nguyễn Văn Đ1 khai nhận toàn bộ nội dung sự việc bà L2 thuê mặt bằng phù hợp lời khai của bà L2. Ông Đ1 không biết H sử dụng mặt bằng thuê để chứa mại dâm và ông Đ1 không hưởng lợi gì khác ngoài tiền cho thuê mặt bằng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trịnh Ngọc H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-NB ngày 19 tháng 7 năm 2024 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt Trịnh Ngọc H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Buộc bị cáo H phải nộp 25.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt phạt bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với bị cáo H.
Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 3.000.000 đồng Hương giao nộp do nhận từ Phan Văn H3 là tiền thu lợi bất chính, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Số tiền 15.000.000 đồng thu lợi bất chính do ông Trịnh Ngọc Ầ (Là anh trai của H) giao nộp thay bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 02 Camera hiệu Vitacam Camera, số S: C600C112026688, tình trạng đã qua sử dụng, H mua lắp đặt quan sát, phục vụ việc kinh doanh tại cơ sở Ngọc Hạ M1 là công cụ phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo Reno 10, số I: 862211064798176, tình trạng đã qua sử dụng, H sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 8, số sê ri: FD6VV3FNJCM4, tình trạng đã qua sử dụng, không liến quan đến việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo H.
- 01 bảng nhựa có ghi thông tin tên chủ TK: TRINH NGOC HUONG và số TK: 030685, tình trạng đã qua sử dụng, phục vụ việc kinh doanh tại cơ sở N là vật không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 bao cao su hiệu HA, tình trạng đã qua sử dụng; 01 bao cao su hiệu Water và L3, tình trạng đã qua sử dụng; 01 bao cao su hiệu HA, tình trạng đã qua sử dụng và 01 bao cao su hiệu Safefit, chưa qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
- Đối với Phạm Ngọc Đ, Nguyễn Thế M và Phan Văn H3 có hành vi mua dâm tại cơ sở N. Người bán dâm là X, P và L1 đều trên 18 tuổi. Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ, M và H3 về hành vi “Mua dâm” quy định tại Điều 24, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 bằng hình thức phạt tiền mỗi người là 1.500.000 đồng là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Nguyễn Thị Bé X, Nguyễn Thị Bích P và Đinh Cẩm L1. Quá trình điều tra xác định X, P và L1 tự nguyện bán dâm cho Đ, M và H3 tại cơ sở N nhằm thu lợi bất chính. Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với X, P và L1 về hành vi “Bán dâm” quy định tại khoản 1, Điều 25, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 bằng hình thức phạt tiền mỗi người là 400.000 đồng là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Ngô Thị Tấn H4, quá trình điều tra xác định H có thỏa thuận với H4 sẽ bán dâm hay kích dục khi khách có nhu cầu. Tuy nhiên tại thời điểm bị Công an bắt quả tang thì H4 chưa thực hiện hành vi bán dâm, kích dục cho khách. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đề nghị không xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Thị Tấn H4 là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Trần Thị Hồng L2, Vũ Quốc T1, quá trình điều tra xác định: H trả số tiền 1.000.000 đồng cho L2 để L4 trả công cho T1 đứng tên giấy phép kinh doanh nhưng L2 và T1 không liên quan và không biết H chứa mại dâm tại cơ sở N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối với Trần Thị Hồng L2 và Vũ Quốc T1 là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Nguyễn Văn Đ1, quá trình điều tra xác định: H thuê mặt bằng của Được để kinh doanh cơ sở Ngọc H5 Mây nhưng Đ1 không biết H chứa mại dâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Văn Đ1 là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Ông Trịnh Ngọc Ả đã thay bị cáo nộp 15 triệu đồng tiền thu lợi bất chính và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả.
Người bào chữa của bị cáo trình bày:
Người bào chữa thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên về cáo buộc tại điểm d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự thì người bào chữa có ý kiến: Tại thời điểm bắt quả tang chỉ có 03 người là X, P, L1 đang bán dâm, còn H4 thì do không có khách nên đang không bán dâm. Do đó, người bào chữa thấy hành vi của bị cáo H chỉ chứa 03 người bán dâm chứ không phải chứa 04 người như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã quy kết.
Về nhân thân: Bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của địa phương; bị cáo đã ly hôn, 01 mình nuôi con và cha mẹ già; trình độ học vấn thấp, nhận thức kém.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Người bào chữa thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ như đề nghị của Viện kiểm sát đó là bị cáo đã nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Người bào chữa cho rằng: Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54, Điều 3 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng mức án 03 năm tù là đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện N và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc H đã thừa nhận vì mục đích kiếm tiền thu lợi bất chính nên chính bị cáo đã sử dụng địa điểm thuê của người khác để chứa mại dâm. Ngày 04/01/2024 bị cáo chứa 04 người bán dâm và đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/01/2024, phù hợp với lời khai của chính bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với lập luận của người bào chữa cho rằng tại thời điểm bắt quả tang chỉ có 03 người là X, P, L1 đang bán dâm, còn H4 thì do không có khách nên không đang bán dâm nên hành vi của bị cáo H là chứa 03 người bán dâm chứ không phải chứa 04 người bán dâm nên không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét:
Ngày 04/01/2024 là ngày bị cáo bị bắt quả tang, bị cáo chứa 04 người bán dâm, trong số đó có 03 người bán dâm đang bán dâm, còn 01 người bán dâm đang không bán dâm vì thời điểm đó không có khách, bị cáo cũng khai nhận đã 02 lần thực hiện hành vi chứa mại dâm tại cơ sở Ngọc Hạ M1 và đã thu lợi bất chính khoảng 40.000.000 đồng. Do đó, người bào chữa cho rằng hành vi của bị cáo H chỉ chứa 03 người bán dâm chứ không phải chứa 04 người bán dâm nên không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự là không phù hợp.
Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trịnh Ngọc H đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại Điều 327 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, nếp sống văn minh. Mại dâm là nguyên nhân lây truyền các loại virus gây bệnh nguy hiểm cho sức khỏe con người. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc chứa mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo đã phạm tội như nêu trên.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với tình tiết bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã nộp một phần tiền thu lợi bất chính, bị cáo có trình độ học vấn thấp, nhận thức hạn chế như người bào chữa trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định đây không phải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Cũng với lập luận như trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự (Cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) như đề nghị của người bào chữa.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung (Phạt tiền) bị cáo 10.000.000 đồng.
Buộc bị cáo phải nộp 25.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước
[4] Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính do bị cáo giao nộp (Tiền do Phan Văn H3 đưa cho H để mua dâm).
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 15.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính (Do ông Trịnh Ngọc  - là anh trai của H) giao nộp thay bị cáo.
- 02 Camera hiệu Vitacam Camera, số S: C600C112026688, tình trạng đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện phạm tội xét tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo Reno 10, số I: 862211064798176, tình trạng đã qua sử dụng, H sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội xét tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 8, số sê ri: FD6VV3FNJCM4, tình trạng đã qua sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội xét trả lại cho bị cáo.
- 01 bảng nhựa có ghi thông tin tên chủ TK: TRINH NGOC HUONG và số TK: 030685, tình trạng đã qua sử dụng, phục vụ việc kinh doanh tại cơ sở N là vật không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu, tiêu hủy.
- 01 bao cao su hiệu HA, tình trạng đã qua sử dụng; 01 bao cao su hiệu Water và L3, tình trạng đã qua sử dụng; 01 bao cao su hiệu HA, tình trạng đã qua sử dụng và 01 bao cao su hiệu Safefit, chưa qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội, xét tịch thu, tiêu hủy.
[5] Về các vấn đề khác:
- Đối với Phạm Ngọc Đ, Nguyễn Thế M và Phan Văn H3 có hành vi mua dâm tại cơ sở N. Người bán dâm là X, P và L1 đều trên 18 tuổi. Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Nguyễn Thị Bé X, Nguyễn Thị Bích P và Đinh Cẩm L1. Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với X, P và L1 về hành vi “Bán dâm” là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Ngô Thị Tấn H4, quá trình điều tra xác định H có thỏa thuận với H4 sẽ bán dâm hay kích dục khi khách có nhu cầu. Tuy nhiên tại thời điểm bị Công an bắt quả tang thì H4 chưa thực hiện hành vi bán dâm, kích dục cho khách. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Thị Tấn H4 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Trần Thị Hồng L2, Vũ Quốc T1, quá trình điều tra xác định không liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối với Trần Thị Hồng L2 và Vũ Quốc T1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với Nguyễn Văn Đ1 không biết H chứa mại dâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Văn Đ1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Ông Trịnh Ngọc Ầ đã thay bị cáo nộp 15 triệu đồng tiền thu lợi bất chính và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả và cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ vào điểm c điểm đ khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
- Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 3.000.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản và Lệnh thanh toán ngày 25/01/2024.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 15.000.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản và Lệnh thanh toán ngày 29/3/2024.
- Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 bảng nhựa có ghi thông tin tên chủ TK: TRINH NGOC HUONG và số TK: 030685, tình trạng đã qua sử dụng.
- 04 bao cao su đã qua sử dụng.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- 02 Camera hiệu Vitacam Camera, số S: C600C1120226688, tình trạng đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo Reno 10, số I 1: 862211064798176, số I: 862211064798168, tình trạng đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo H: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 8, số sê ri: FD6VV3FNJCM4, số I: 359402088804039, tình trạng đã qua sử dụng;
- (Theo phiếu nhập kho số 2024-NK051 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
- Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt: Trịnh Ngọc H 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
Buộc bị cáo phải nộp 25.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về chứa mại dâm
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỊNH NGỌC H PHẠM TỘI "CHỨA MẠI DÂM"
