|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 9 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Văn Hòa.
Ông Kiêm Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
(Chị L yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, xã N (nay là thị xã N), tỉnh Khánh Hòa ngày 20-10-2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh T. Về con chung: Thời gian chung sống, chị L và anh T có con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25-10-2009 và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 05-8-2013. Cháu K hiện đang sống cùng với anh T, cháu P đang sống cùng với chị L. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu P đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng; đồng ý giao cháu K cho anh T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, chị L không cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc T: Anh T đã được cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của chị L.
- Tại Văn bản tường trình ý kiến, cháu Nguyễn Quốc K, Nguyễn Quốc P trình bày:
Cháu K có nguyện vọng được sống cùng với anh T, có thời gian sẽ đến thăm chị L; cháu P có nguyện vọng được sống cùng với chị L.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt các phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cụ thể: Chị L được ly hôn với anh T. Giao con chung tên Nguyễn Quốc P, sinh ngày 05-8-2013 cho chị L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết. Giao con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25-10-2009 cho anh T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh T không có ý kiến yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, anh T không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu được ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Nguyễn Quốc T. Anh Nguyễn Quốc T cư trú tại ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Chị L yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, chị L yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là thị xã N), tỉnh Khánh Hòa và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 102, quyển số 01/2009 ngày 20-10-2009. Tại thời điểm kết hôn, chị L, anh T đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 9, Điều 11 và Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh T được pháp luật công nhận.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị L, anh T chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị L, anh T tham gia phiên hòa giải nhưng chị L có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt nên không hòa giải đoàn tụ được. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị L yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về con chung: Theo Giấy khai sinh số: 209, quyển số 02/2009, đăng ký ngày 10-11-2009 và Giấy khai sinh số: 168, quyển số 01/2013, đăng ký ngày 25-9-2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là thị xã N), tỉnh Khánh Hòa: Chị L, anh T có con chung tên Nguyễn Quốc K (giới tính: Nam), sinh ngày 25-10-2009 và Nguyễn Quốc P (giới tính: Nam), sinh ngày 05-8-2013. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu P đến khi đủ 18 tuổi và đồng ý giao cháu K cho anh T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Anh T không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị L. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Phát hiện đang sống cùng chị L, cuộc sống đã ổn định và có nguyện vọng được sống cùng với chị L; cháu K đang sống cùng với anh T, có nguyện vọng được sống với anh T và chị L đồng ý giao cháu K cho anh T nuôi dưỡng. Để đảm bảo cuộc sống của con chung được ổn định, cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, giao cháu P cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của cháu P; giao cháu K cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của cháu K. Như vậy, yêu cầu về con chung của chị L là có căn cứ chấp nhận.
[6] Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 1 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định này, chị L là người không trực tiếp nuôi cháu K phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu K được sống với anh T; chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu K mà không ai được cản trở. Anh T là người không trực tiếp nuôi cháu P phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu P được sống với chị L; anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu P mà không ai được cản trở.
[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này, chị L là người không trực tiếp nuôi dưỡng cháu K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, do anh T không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết; anh T là người không trực tiếp nuôi dưỡng cháu P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, do chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Anh T không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[9] Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[10] Về án phí sơ thẩm: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng.
[11] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
- Về con chung:
Giao con chung tên Nguyễn Quốc P (giới tính: Nam), sinh ngày 05-8-2013 cho chị Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Giao con chung tên Nguyễn Quốc K (giới tính: Nam), sinh ngày 25-10-2009 cho anh Nguyễn Quốc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Ngọc L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu anh Nguyễn Quốc T phải cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết. Anh Nguyễn Quốc T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc L phải cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Anh Nguyễn Quốc T không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0005078 ngày 03-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Chị Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.
