Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hướng và ông Trần Văn Lương.

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Đại, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 128/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/10/2023; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QÐST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu Á, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Diệu Á đều trình bày:

Chị và anh Hà Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 20/10/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không liên lạc, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Á khai chị và anh T có 02 con chung là Hà Thị Tố N, sinh ngày 17/8/2004 và Hà Văn Q, sinh ngày 25/7/2006. Chị A có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã thành niên nên việc ở với ai là quyền của cháu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Á khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Hà Văn T không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 15/5/2024, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn anh Hà Văn T, xin được giao con chung là Hà Văn Q, sinh ngày 25/7/2006 cho anh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Chị Á tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diệu Á.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu Á được ly hôn anh Hà Văn T.

Về con chung: Giao cháu Hà Văn Q, sinh ngày 25/7/2006 cho anh Hà Văn T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Á tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Á không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Á phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Diệu Á khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Hà Văn T. Anh T có nơi cư trú tại: Thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu Tòa án giao con chung là cháu Hà Văn Q, sinh ngày 25/7/2006 cho anh Hà Văn T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn T và chị Nguyễn Thị Diệu Á có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 20/10/2003 (số 95, năm 2003). Như vậy, hôn nhân giữa anh T và chị Á là hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu Á, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình chị Á và anh T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian dài, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau. Trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay là phù hợp với xác minh tại chính quyền địa phương xã H, thị xã H xác nhận “ Quá trình chung sống, vợ chồng anh T và chị Á xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ khoảng năm 2020 cho đến nay”. Như vậy, có cơ sở xác định đời sống chung hiện nay giữa anh T và chị Á không tồn tại.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng anh T không đến Toà án để làm việc, hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với chị Á là thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, nên mục đích hôn nhân là không thể đạt được.

Xét thấy hôn nhân giữa anh T và chị Á đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn của chị Á, cho chị Á được ly hôn anh T.

[2.3] Về con chung: Chị Á và anh T có 02 con chung là Hà Thị Tố N, sinh ngày 17/8/2004 và Hà Văn Q, sinh ngày 25/7/2006, hiện đang ở với anh T.

Xét yêu cầu giao cháu Q cho anh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn của chị Á, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi vợ chồng sống ly thân, chị Á vào làm việc tại Vũng Tàu và cháu Q vẫn ở ổn định với anh Từ t đó cho đến nay. Nhằm để đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định tâm lý cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không gây xáo trộn việc hiện nay cháu Q đang ở với anh T, mặt khác cháu Q hiện đã 17 tuổi 10 tháng 8 ngày, nên Hội đồng xét xử cần phải giao cháu Hà Văn Q cho anh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp.

Đối với cháu Hà Thị Tố N, sinh ngày 17/8/2004, hiện đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Á, buộc chị Á cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.

[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Á không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Về án phí: Chị Á phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Diệu Á đối với anh Hà Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

    Chị Nguyễn Thị Diệu Á được ly hôn anh Hà Văn T.

  2. Về con chung: Giao cháu Hà Văn Q, sinh ngày 25/7/2006 cho anh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Hà Thị Tố N, sinh ngày 17/8/2004, hiện đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Buộc chị Á cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản cấp dưỡng nuôi con) mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Á không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Á phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0001509 ngày 20/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Chị Á còn phải nộp 300.000 đồng.

Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TTHuế;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - Chi cục Thi hành án thị xã Hương Trà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà.
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 08/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger