TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-PT Ngày: 02/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Ông Đặng Đức Hào
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/HSPT ngày 22/01/2024 đối với bị cáo Phạm Anh D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Anh D, sinh năm 1981 tại Khánh Hòa; Thường trú: Tổ F, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà Phạm Thị Đ (sinh năm 1959); đã ly hôn vợ là Huỳnh Thị Tuyết N (sinh năm 1985); có 02 con, lớn sinh năm 2005 đang đi nghĩa vụ quân sự, nhỏ sinh năm 2009 ở với mẹ. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú là ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05h55' ngày 23/5/2023, Phạm Anh D đi xe mô tô biển số 72N2-5574 đến quán nước của bà Nguyễn Thị M tại tổ D, khu phố L, thị trấn L, huyện L mua cà phê. Thấy bà M để chiếc điện thoại iPhone 13 ProMax trên kệ ly, vào nhà lấy nước đá pha cà phê, D chồm người lấy chiếc điện thoại giấu vào túi quần. Khi bà M trở lại, D nói không mua cà phê nữa rồi bỏ đi. Sau đó, D mang điện thoại đến cửa hàng điện thoại di động “Đức Huy” của anh Tạ Quang Đ1 tại thành phố B mở mật khẩu khóa nhưng không được nên bán điện thoại cho anh Đ1 lấy 1.900.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Đến 10h00' cùng ngày, bà M phát hiện và trình báo Công an giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐ ĐGTS ngày 10/7/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại số Iphone 13 ProMax, màu vàng, ram 06GB, dung lượng lưu trữ 128GB, đã qua sử dụng có giá trị (tại thời điểm định giá ngày 23/5/2023) là 13.380.000 đồng.
Vật chứng:
- Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại bị chiếm đoạt trong vụ án.
- Xe mô tô biển số 72N2-5574 bị cáo Phạm Anh D sử dụng trong quá trình gây án là xe của chị Huỳnh Thị Tuyết N (vợ đã ly hôn với bị cáo) cho D mượn sử dụng. Chị N không biết D sử dụng xe là phương tiện phạm tội. Cơ quan điều tra đã trao trả xe mô tô cho chị N.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB màu bạc ghi đoạn video Phạm Anh D thực hiện hành vi phạm tội ngày 23/5/2023.
- Chuyển chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý 1.000.000 đồng bị cáo Phạm Anh D nộp để khắc phục một phần hậu quả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Anh D 08 (T) tháng tù, tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 01/12/2023, bị cáo Phạm Anh D kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng:
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, là kháng cáo hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Phạm Anh D phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo 08 (T) tháng tù, là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, nhưng nơi cư trú của bị cáo không ổn định, nên không đủ điều kiện áp dụng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo hiện không có nghĩa vụ cấp dưỡng ai cả, vì bị cáo đã ly hôn vợ, con lớn bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng hiện đã thành niên, đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, con nhỏ thì vợ bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 05h55' ngày 23/5/2023, tại tổ D, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phạm Anh D đã lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị M 01 (Một) điện thoại di động iPhone 13 Pro Max trị giá 13.380.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Anh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn xảy ra vụ án, gây tâm lý bất an, hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân trên địa bàn. Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Nhưng vì tham lam, muốn hưởng thụ mà không phải vất vả lao động, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt điện thoại iPhone 13 Pro Max trị giá 13.380.000 đồng của người khác, phục vụ nhu cầu cá nhân của mình, cố tình vi phạm pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả tội phạm, quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định xử phạt bị cáo 08 (T) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo không có nơi cư trú ổn định, nên không thể xem xét áp dụng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo Phạm Anh D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Anh D; giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 196/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Anh D 08 (tám) tháng tù, tính từ ngày bắt chấp hành án.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 196/2023/HSST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Anh D nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (02/5/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 49/2024/HS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 49/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh D 173
