Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 49/2025/KDTM- PT.

Ngày 12/3/2025.

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phương Thủy

Ông Trần Anh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Phan Thị Tình - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội.

Trong ngày 12/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2025/KTTM-PT ngày 20/01/2025 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 36/2024/KDTM- ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân quận BTL, Hà Nội bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXX-PT ngày 21/2/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2025/QĐPT- KDTM ngày 04/3/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần M (Tên gọi cũ: Công ty TNHH MTV M); Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (Sau đây gọi là Công ty M);

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T; Chức vụ: Giám đốc: Đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1, Trưởng phòng Xử lý nợ Miền Bắc (Văn bản ủy quyền số 02/2024/UQ-GĐ ngày 19/4/2024);

Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đăng L; Trưởng bộ phận xử lý nợ; Ông Nguyễn Mạnh C và ông Đinh Ngọc T2; Chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 60/2024/UQ-M.VPB ngày 02/5/2024); Ông Nguyễn Mạnh C có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn:

Ông Ngô Thanh H, sinh năm 1983; Vắng mặt tại phiên tòa

Bà Đỗ Thị Hằng N, sinh năm 1983; Vắng mặt tại phiên tòa

Cùng đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ quận B, thành phố Hà Nội; Cùng cư trú tại: Số A, tổ dân phố D, phường Đ quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Ngô Thanh H và bà Đỗ Thị Hằng N vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (V1), cụ thể như sau:

Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205095724480 ngày 16/05/2022, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 18/05/2022 (Sau đây gọi là Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310) và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát phát hành thẻ kiêm hợp đồng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/05/2022, 115-P-0330508 (Sau đây gọi là Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng), chi tiết khoản vay của ông H, bà N như sau:

  • - Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205095724480 ngày 16/05/2022, số tiền vay là 2.200.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức: 24 tháng; Mục đích vay: Vay bổ sung vốn kinh doanh mỹ phẩm; Lãi suất cho vay, phí theo các khế ước nhận nợ ngày 17/05/2022; 18/05/2022; 23/05/2022; Thời hạn cho vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay (trong hạn) tại thời điểm giải ngân: 8%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày); Lãi suất cho vay trọng hạn được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào các ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở đồng Việt Nam áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được Ngân hàng công bố (Được niêm yết tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3.5%/năm; Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả (Được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.
  • - Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310, số tiền cho vay: 290.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua sắm đồ gia dụng; Thời hạn cho vay: 60 tháng; Loại hình cho vay: Vay tín chấp; Lãi suất: Theo quy định của V1;
  • - Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng; Hạn mức đề nghị: 99,000,000 đồng; Loại thẻ: V1; Mục đích: Tiêu dùng; Lãi suất: Theo quy định của V1.
  • - Tài sản bảo đảm cho dư nợ của các khoản vay nêu trên là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại: Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận QSD đất số: CH 731574, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐP10150 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 01/06/2018; Ngày 01/04/2022, Văn phòng Đ - chi nhánh huyện Đ đã đăng ký sang tên cho ông H và bà N. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2175/2022; Quyển số: 02-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/05/2022 lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội. Việc thế chấp tài sản bảo đảm đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Ông H và Bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại V1. Ngày 29/12/2023, V1 đã bán khoản nợ của Ông H và Bà N cho Công ty M theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-M; Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-M và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 và Công ty M. Theo đó, V1 đồng ý bán và Công ty M đồng ý mua (các) khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho vay mà H và N đã ký kết với V1. Tạm tính đến ngày 28/08/2024, Ông H, bà N còn nợ Công ty M số tiền: Nợ gốc: 2,567,178,743 đồng; Nợ lãi: 1,108,985,076 đồng; Tổng nợ: 3,676,163,819 đồng.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • - Buộc ông H, bà N phải trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày xét xử là: Nợ gốc: 2,567,178,743 đồng; Nợ lãi: 1,108,985,076 đồng; Tổng nợ: 3,676,163,819 đồng; Ông H bà N phải tiếp tục thanh toán tiền lãi cho Công ty M tiền lãi theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng/hợp đồng hạn mức đến khi ông bà thực tế thanh toán hết nợ gốc cho Công ty M.
  • - Trường hợp ông H, bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty M có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, cưỡng chế, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Công ty gồm toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại: Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận QSD đất số CH731574, số vào sổ cấp GCN CS-ĐP10150 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 01/06/2018 và ngày 01/04/2022 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện Đ đã đăng ký sang tên cho ông Ngô Thanh H và bà Đỗ Thị Hằng N.
  • - Công ty M được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án cưỡng chế, kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của Ông H bà N để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Bản án/Quyết định của Tòa án cho đến khi ông H, bà N hết nghĩa vụ với Công ty.
  • - Ông H bà N phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).

Bị đơn, ông Ngô Thanh H và bà Đỗ Thị Hằng N

đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông bà không đến Tòa án làm việc theo triệu tập và không cung cấp ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn, Công ty M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bị đơn là ông H, bà N phải thanh toán cho công ty số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử: Số tiền nợ gốc: 2.567.178.743 đồng; Lãi trong hạn là 28.140.992 đồng; Lãi quá hạn là 1.064.461.982 đồng; Tổng nợ: 3.659.781.717 đồng; Ông H bà N phải tiếp tục thanh toán tiền lãi cho Công ty M tiền lãi theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng/hợp đồng hạn mức đến khi ông bà thanh toán hết nợ gốc cho Công ty M. Trường hợp ông H, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Công ty M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Công ty gồm toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại: Xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận QSD đất số CH731574 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 01/06/2018, đã được đăng ký sang tên cho ông H và bà N. Công ty M rút yêu cầu khởi kiện về việc có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án cưỡng chế, kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông H bà N để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo bản án của Tòa án cho đến khi ông H, bà N thực hiện hết nghĩa vụ với Công ty.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn vắng mặt không lý do. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 36/2024/KDTM- ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân quận BTL đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty M:

  1. Buộc ông Ngô Thanh H, bà Đỗ Thị Hằng N phải trả cho Công ty M số tiền nợ gốc và lãi cụ thể:
    • - Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205095724480 ngày 16/05/2022, nợ gốc là: 2.200.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 23.880.759 đồng, lãi quá hạn là: 829.058.273 đồng, tổng cộng là 3.052.939.032 đồng. Kể từ ngày xét xử, ông H, bà N còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho Công ty M theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đến ngày trả xong nợ gốc.
    • - Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310 số tiền nợ gốc 270.783.834 đồng, lãi trong hạn: 4.260.233 đồng, lãi quá hạn: 95.560.560 đồng, tổng cộng là 417.928.906 đồng. Kể từ ngày xét xử, ông H, bà N còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho Công ty M theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310 đến ngày trả xong nợ gốc.
    • - Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế (115-P-0330508) số tiền nợ gốc 96.394.909 đồng, nợ lãi là 92.518.870 đồng, tổng cộng là 188.913.779 đồng; Kể từ ngày xét xử, ông H, bà N còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho Công ty M theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế (115-P-0330508) đến ngày trả xong nợ gốc.
    • - Tổng số tiền ông H, bà N phải thanh toán cho Công ty M là: 3.659.781.717 đồng, trong đó nợ gốc là: 2.567.178.743 đồng; nợ lãi trong hạn là 28.140.992 đồng; nợ lãi quá hạn là 1.017.137.703 đồng. Tổng số tiền ông H, bà N phải thanh toán là 3.612.457.438 đồng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty M nếu ông Ngô Thanh H, bà Đỗ Thị Hằng N không trả được số tiền nêu trên thì Công ty M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại: Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận QSD đất số: CH 731574, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐP10150 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 01/06/2018; Ngày 01/04/2022, Văn phòng Đ - chi nhánh huyện Đ đã đăng ký sang tên cho ông H và bà N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2175/2022; Quyển số: 02-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/05/2022 lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội với tài sản bảo đảm cho dư nợ tại Hợp đồng hạn mức số LN2205095724480 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310.

    Nếu số tiền thu được từ việc xử lí/bán tài sản đảm bảo nêu trên không đủ để thanh toán khoản nợ gốc, lãi cho Công ty M, ông H, bà N phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền còn thiếu cho Công ty M.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty M về việc Công ty được quyền yêu cầu kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông H, bà N để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo bản án của Tòa án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo, quyền thi hành án của các đương sự.

Không đồng ý với Bản án sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn là Công ty cổ phần M1 kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận lãi suất tín dụng không quá 20% theo Quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự là không đúng, đề nghị tính lãi suất theo theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng tín dụng cho vay LD2214602310.
  • - Bị đơn là ông Ngô Thanh H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét miễn giảm lãi và giãn thời gian để bị đơn thu xếp trả nợ.

Ngoài đơn kháng cáo, người kháng cáo không nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác.

Tại cấp phúc thẩm:

Nguyên đơn và bị đơn không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung cầu kháng cáo.

Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn và bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ về hình thức.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và tiến hành phiên tòa. Thư ký đã làm đầy đủ nhiệm vụ và phổ biến nội quy phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, được trình bày ý kiến và căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bị đơn vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên được coi là đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của Bị đơn, chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn:

Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết các Hợp đồng tín dụng, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ. Nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn đúng khoản tiền mà hai bên đã ký kết. Việc bị đơn không trả tiền nợ gốc và tiền lãi theo thỏa thuận là vi phạm hợp đồng tín đụng đã ký nên bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn.

Theo Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về nguyên tắc cho vay thì: “Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan”. Do vậy, khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng phải áp dụng quy định của Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N1 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cấp sơ thẩm áp dụng quy định về lãi suất của Bộ luật dân sự để giải quyết là chưa đúng. Xét thấy Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm do ông H yêu cầu có thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 20%. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn được quy định tại Bản điều kiện giao dịch chung của V1 là phù hợp với quy định tại điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lãi quá hạn của Hợp đồng cho vay LD2214602310 với số tiền là 142.884.839 đồng.

Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm LD2214602310 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/5/2022 chỉ có một mình ông Ngô Thanh H ký vay nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc cả ông H, bà N phải thanh toán nợ đối với hợp đồng tín dụng này là không phù hợp. Mặc dù không có đương sự kháng cáo về nội dung này nhưng cách tuyên của bản án chưa phù hợp. Do vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên, chỉ buộc ông Ngô Thanh H phải thanh toán đối với 02 hợp đồng tín dụng này.

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016 về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần M, sửa bản án sơ thẩm về lãi suất và cách tuyên nghĩa vụ trả nợ của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét về thủ tục kháng cáo:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn làm và nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ về hình thức. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về người tham gia tố tụng: Phiên tòa hôm nay được mở lần thứ 2, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố cho đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên được coi là từ bỏ quyền kháng cáo. Căn cứ Điều 308, Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn, chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[2]. Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn:

2.1.Về tính pháp lý của các Hợp đồng tín dụng và số tiền gốc phải thanh toán:

  • - Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205095724480 ngày 16/05/2022, số tiền vay là 2.200.000.000 đồng. V1 đã giải ngân cho khách hàng là ông Nguyễn Thanh H1 và Đỗ Thị Hằng N theo 03 Khế ước nhận nợ gồm: Khế ước nhận ngày 17/05/2022; 18/05/2022; 23/05/2022; Lãi suất cho vay (trong hạn) tại thời điểm giải ngân: 8%/năm, cố định trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân. Sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần bằng mức lãi suất cơ sở đồng Việt Nam áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được Ngân hàng công bố (có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh) + biên độ 3.5%/năm; Lãi suất gốc quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Bên vay trả lãi 01 tháng/lần và ngày trả đầu tiên là ngày 15/6/2022. Ông H1, bà N đã trả được 108.528.091 đồng nợ lãi. Từ ngày 15/12/2022, ông H1, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên khoản nợ gốc 2.200.000.000 đồng chuyển sang lãi quá hạn.
  • - Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310, số tiền cho vay: 290.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua sắm đồ gia dụng; Thời hạn cho vay: 60 tháng; Loại hình cho vay: Vay tín chấp; Lãi suất: 20%/năm, cố định trong suốt thời gian vay; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Ông H1 đã trả được số tiền nợ gốc 19.216.166 đồng. Kể từ ngày 15/12/2022, khoản vay chuyển sang lãi quá hạn.
  • - Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng; Hạn mức đề nghị: 99,000,000 đồng; Loại thẻ: V1; Mục đích: Tiêu dùng; Lãi suất: 2,99%/tháng. Ông H1 bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 18/6/2022 đến ngày 06/12/2022, với tổng số tiền là 198.203.123 đồng và đã thanh toán cho V1 tổng số tiền là 101.808.214 đồng, còn nợ gốc là 96.394.909 đồng. Kể từ ngày 15/12/2022, khoản tiền 96.394.909 đồng ông H1 giao dịch tại thẻ phát sinh nợ lãi.
  • - Về tài sản đảm bảo: Theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết giữa V1 và ông H1, bà N được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội. Tài sản bảo đảm cho dư nợ tại Hợp đồng hạn mức số LN2205095724480 là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại: Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 731574 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 01/06/2018, sang tên cho ông H1 và bà N ngày 01/04/2022. Việc thế chấp tài sản bảo đảm đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, lãi quá hạn, phạt... tại Hợp đồng hạn mức số LN2205095724480.
  • Đồng thời, theo thỏa thuận tại điểm 7, mục V của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310, ông H1 đồng ý giải chấp tài sản ông H1 đang đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ khác của ông H1 tại V1 trong trường hợp ông H1 không trả được khoản tiền vay nợ tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310.
  • Xét thấy, Hợp đồng tín dụng, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng, các Khế ước nhận nợ và Hợp đồng thế chấp được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định tại khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 317, 318, 319, 320, 357 Bộ luật dân sự 2015; các bên không có tranh chấp về tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng; Hợp đồng thế chấp và không kháng cáo nên có hiệu lực pháp luật.
  • Quá trình thực hiện Hợp đồng: Ông H1 và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại V1. Ngày 29/12/2023, V1 đã bán khoản nợ của Ông H1 và Bà N cho Công ty M. Theo đó, V1 đồng ý bán và Công ty M đồng ý mua (các) khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho vay mà H1 và N đã ký kết với V1. Tạm tính đến ngày 16/9/2024, ông H1, bà N còn nợ số tiền nợ gốc của từng khoản vay như sau: Đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng LN2205095724480 ngày 16/05/2022, số tiền nợ gốc là 2.200.000.00 đồng. Đối với khoản vay theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310, số tiền nợ gốc là 270.783.834 đồng. Đối với Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với hạn mức 99.000.000 đồng, số tiền gốc còn nợ là 96.394.909 đồng. Việc bị đơn không trả nợ cho Ngân hàng V1 theo đúng thời hạn ghi trong Hợp đồng tín dụng; Khế ước nhận và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng là vi phạm thỏa thuận đã ký kết giữa các bên nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc 2.567.178.743 đồng là có căn cứ.

Về số tiền nợ lãi :

  • - Đối với Hợp đồng hạn mức số LN2205095724480: Theo quy định tại điểm b, khoản 6 Điều 1 của các Khế ước nhận nợ, bên vay phải trả lãi 01 tháng/lần và ngày trả lãi đầu tiên là ngày 15/6/2022. Ông H1, bà N đã trả được 108.528.091 đồng nợ lãi. Từ ngày 15/12/2022, ông H1, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên khoản nợ gốc 2.200.000.000 đồng đã chuyển sang lãi quá hạn, V1 giữ nguyên mức lãi suất áp dụng tại thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc đến nay là 14.2%, lãi suất quá hạn là 21.3%. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H1, bà N phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền: Lãi trong hạn: 23.880.759 đồng; Lãi quá hạn: 829.058.273 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về nội dung này.
  • - Đối với yêu cầu thanh toán lãi, các khoản phí của thẻ tín dụng quốc tế (Thẻ Master 115-P-0330508) mở theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 99.000.000 đồng. Ông H1 bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 18/6/2022 đến ngày 06/12/2022, với tổng số tiền là 198.203.123 đồng và đã thanh toán cho V1 tổng số tiền là 101.808.214 đồng, còn nợ gốc là 96.394.909 đồng. Kể từ ngày 15/12/2022, khoản tiền 96.394.909 đồng ông H1 giao dịch tại thẻ phát sinh nợ lãi. Công ty M đề nghị áp dụng lãi suất theo quyết định về việc ban hành điều chính lãi suất thẻ tín dụng đối với khách hàng cá nhân của V1 tại thời điểm vay là 2.99%/tháng vì lãi suất mới được điều chỉnh từ ngày 20/12/2022 cao hơn là có căn cứ, cần chấp nhận. Thẻ tín dụng này, ông H1 chỉ sử dụng chưa được một năm nên chưa phát sinh các khoản phí. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H1 phải thanh toán cho Công ty M số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2024) là: 92.518.870 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về nội dung này.
  • - Đối với yêu cầu tính nợ lãi của khoản vay theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310 với số nợ gốc là 270.783.834 đồng. Tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo, lãi suất cho vay trong hạn tối đa là 20%/năm và được cố định trong suốt thời hạn vay. Theo bảng kê chi tiết của khoản nợ thì từ ngày 15/12/2022, ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và khoản vay chuyển quá hạn. Theo thỏa thuận, lãi suất quá hạn là 150% của lãi trong hạn tương đương 30%.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Giấy đăng lý kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310 được V1 và bị đơn ký kết vào năm 2022, theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm có quy định như sau: “1. Lãi, lãi suất trong Hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các Tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất: 2. Khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các Tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất". Theo khoản 1, khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN đổi bổ sung bởi Khoản 4 Điều 1 Thông tư 06/2023/TT-NHNNquy định về lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N1 có quy định về lãi suất cho vay tối đa”. Nên việc tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định của Bộ luật dân sự để tính lãi suất là chưa đúng, cần áp dụng lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên. Qua kiểm tra bảng tính lãi do nguyên đơn xuất trình, thấy việc tính lãi trong hạn và lãi quá hạn của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn là có căn cứ. Tính đến ngày 16/9/2024, bị đơn còn nợ lãi trong hạn: 4.260.233 đồng, nợ lãi quá hạn: 142.884.839 đồng.

Về nghĩa vụ trả nợ:

Ngoài khoản vay theo Hợp đồng hạn mức số LN2205095724480, ông Ngô Thanh H còn ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm LD2214602310 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử. Mặc dù đối với 02 khoản vay không có tài sản đảm bảo chỉ có một mình ông Ngô Thanh H ký giấy vay, tuy nhiên mục đích của 02 khoản vay đều nhằm mục đích mua đồ dùng gia dụng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày, thời gian ký kết giấy vay nợ trong thời kỳ hôn nhân của ông H và bà N nên cần xác định nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay trên là nghĩa vụ chung của ông Ngô Thanh H và bà Đỗ Thị Hằng N như bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy kháng cáo của nguyên đơn có căn cứ để chấp nhận, cần sửa một phần Bản án sơ thẩm về lãi quá hạn của khoản vay theo Giấy đăng lý kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3]. Về án phí:

Do được chấp nhận kháng cáo nên nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
  • - Căn cứ các điều 280, 320, 321, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ các điều 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần M, sửa Bản án sơ thẩm số 36/2024/KDTM-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân quận BTL, thành phố Hà Nội như sau:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty M, buộc ông Ngô Thanh H, bà Đỗ Thị Hằng N phải trả cho Công ty M số tiền nợ gốc và lãi cụ thể:

    • - Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205095724480 ngày 16/05/2022, nợ gốc là: 2.200.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 23.880.759 đồng, lãi quá hạn là: 829.058.273 đồng, tổng cộng là 3.052.939.032 đồng. Kể từ ngày xét xử, ông H, bà N còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho Công ty M theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đến ngày trả xong nợ gốc.
    • - Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310 số tiền nợ gốc 270.783.834 đồng, lãi trong hạn: 4.260.233 đồng, lãi quá hạn: 142.884.839 đồng. Tổng cộng là 417.928.906 đồng. Từ ngày xét xử, ông H, bà N còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho Công ty M theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310 đến ngày trả xong nợ gốc.
    • - Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế (115-P-0330508) số tiền nợ gốc 96.394.909 đồng, nợ lãi là 92.518.870 đồng, tổng cộng là 188.913.779 đồng; Kể từ ngày xét xử, ông H, bà N còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc ông bà chưa thanh toán cho Công ty M theo lãi suất hai bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế (115-P-0330508) đến ngày trả xong nợ gốc.
    • - Tổng số tiền ông H, bà N phải thanh toán cho Công ty M là: Nợ gốc là: 2.567.178.743 đồng; nợ lãi trong hạn là 28.140.992 đồng; nợ lãi quá hạn là 1.064.461.982 đồng. Tổng số tiền ông H, bà N phải thanh toán là 3.659.781.717 đồng.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty M về việc Công ty được quyền yêu cầu kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông H, bà N để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo bản án của Tòa án.
  3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Thanh H.
  4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty M nếu ông Ngô Thanh H, bà Đỗ Thị Hằng N không trả được số tiền nêu trên thì Công ty M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 16 có địa chỉ tại: Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận QSD đất số: CH 731574, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐP10150 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 01/06/2018; Ngày 01/04/2022, Văn phòng Đ - chi nhánh huyện Đ đã đăng ký sang tên cho ông H và bà N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2175/2022; Quyển số: 02-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/05/2022 lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội với tài sản bảo đảm cho dư nợ tại Hợp đồng hạn mức số LN2205095724480 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay LD2214602310.

    Nếu số tiền thu được từ việc xử lí/bán tài sản đảm bảo nêu trên không đủ để thanh toán khoản nợ gốc, lãi cho Công ty M, ông H, bà N phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền còn thiếu cho Công ty M.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Về án phí kinh doanh thương mại:
    • - Án phí sơ thẩm:
    • + Ông Ngô Thanh H, bà Đỗ Thị Hằng N phải chịu 105.195.634 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    • + Hoàn trả Công ty M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 49.000.000 đồng tại Biên lai số 0021617 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận BTL, Hà Nội.
    • - Án phí phúc thẩm:
    • + Công ty Cổ phần M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Hoàn trả Công ty Cổ phần M1 số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu số 0021957 ngày 04 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận BTL, Hà Nội.
    • + Ông Ngô Thanh H phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo Biên lai nộp tạm ứng án phí phúc thẩm số 0021934 ngày 26/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận BTL, Hà Nội.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND TP Hà Nội;
  • - TAND quận BTL
  • - Chi cục THADS quận BTL.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, TKT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/KDTM- PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 49/2025/KDTM- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CÔNG TY M - H VÀ N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger