Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HSST

Ngày 26-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đồng Văn Diện

Ông Trần Thành Đô

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N; Tên gọi khác: Không có; sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1962; gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ: Lê Thị T, sinh năm 1985; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Minh P1, sinh năm 2007 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Cẩy, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  3. Anh Trương Công G, sinh năm 1995 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số nhà A, tổ dân phố M, phường N, thị xã V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 04/12/2024, Nguyễn Văn N đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn V ở cùng thôn chơi. Khi N đi vào phòng khách nhà anh V thì nhìn thấy anh Phạm Văn Đ ở cùng thôn đang nằm ngủ tại chiếc chiếu trải dưới nền nhà anh V. Đồng thời, N phát hiện thấy anh Đ có để 02 chiếc điện thoại di động, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S24 Ultra ở hai bên người nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại này. Quan sát thấy anh Đ ngủ say, xung quanh không còn ai khác, N đi đến vị trí anh Đ nằm và dùng tay phải cầm 02 chiếc điện thoại của anh Đ đút vào túi quần bên phải đang mặc rồi rời đi. Khoảng 05 giờ 30 phút rạng sáng ngày 05/12/2024, anh Đ tỉnh dậy phát hiện 02 chiếc điện thoại di động của mình bị trộm cắp đã đăng nhập vào tài khoản Icloud của chiếc điện thoại Iphone 16 Promax nhắn tin với nội dung “Iphone này bị thất lạc. Vui lòng gọi cho tôi. Cho tôi chuộc lại và hậu tạ tôi cần dữ liệu trong máy cảm ơn 0968968119”.

Sau khi trộm cắp được 02 chiếc điện thoại, N mang về nhà, tháo vứt bỏ sim rồi cất giấu ở đầu giường trong phòng ngủ của mình. Khoảng 06 giờ 30 phút sáng 05/12/2024, N thấy con trai là cháu Nguyễn Minh P1, sinh năm 2007 đi học thì có đưa cho cháu P1 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax trộm cắp của anh Đ và nói với cháu P1 “Điện thoại cũ này, bố không nhớ mật khẩu con xem bán được bao nhiêu tiền thì bán”, cháu P1 nghĩ đây là điện thoại cũ của N cho mình nên cầm chiếc điện thoại này cất vào trong cặp. Đến ngày 24/01/2025, cháu P1 xuống thị xã V, tỉnh Bắc Giang chơi rồi vào cửa hàng sửa chữa điện thoại di động biển hiệu “Ngọc Anh M1” của anh Trương Công G, sinh năm 1995 ở số nhà A, tổ dân phố M, phường N, thị xã V để bán chiếc điện thoại Iphone 16 Promax Nhường đưa cho. Tại đây, cháu P1 nói với anh G chiếc điện thoại này là của cháu P1 được bố cho đem đi bán do bố không nhớ mật khẩu. Anh G nghe vậy thì đồng ý mua và trả cho P1 10.000.000 đồng tiền mặt; quá trình mua bán anh G có yêu cầu P1 xác nhận lại nguồn gốc chiếc điện thoại rồi quay video để làm bằng chứng. Số tiền bán điện thoại, cháu P1 đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 25/01/2025, anh G lấy 01 sim số điện thoại khác lắp thử vào chiếc điện thoại Iphone 16 Promax mua của cháu P1 thì màn hình hiện thị nội dung nhắn tìm điện thoại của anh Đ nên đã liên lạc với anh Đ để xuống lấy lại chiếc thoại. Sau đó, anh Đ xuống gặp anh G rồi đặt vấn đề mua lại chiếc điện thoại Iphone 16 Promax thì anh G đồng ý. Do mất các chi phí để bảo dưỡng, mở khóa màn hình nên anh Đ đã thanh toán cho anh G số tiền là 15.000.000 đồng rồi cầm điện thoại về. Đồng thời, anh G có cho anh Đ xem lại đoạn video quay khi cháu P1 bán chiếc điện thoại Iphone 16 Promax thì anh Đ nhận ra cháu P1 là con của N.

Ngày 11/02/2025, anh Đ có đơn trình báo Công an xã H về việc bị mất trộm điện thoại tại nhà anh V và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng.

Ngày 12/02/2025, N được Công an xã H mời về trụ sở làm việc thì Nhường đầu thú khai nhận rõ về hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như đã trình bày ở trên và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S24 Ultra trộm cắp của anh Đ.

Ngày 17/02/2025, Công an xã H chuyển hồ sơ tài liệu và vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 18/02/2025, Cơ quan điều tra tiến hành cho N chỉ dẫn địa điểm, vị trị trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động của anh Đ, kết quả: Nhường chỉ dẫn chính xác địa điểm, vị trí để 02 chiếc điện thoại trộm cắp phù hợp với lời khai của anh Đ.

Ngày 01/3/2025, Cơ quan điều tra tiến hành cho N và bị hại anh Phạm Văn Đ nhận dạng điện thoại bị trộm cắp, kết quả: Nhường và anh Đ đều nhận dạng được 01 điện thoại Iphone 16 Promax và 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra là tài sản của anh Đ bị N trộm cắp.

Tại kết luận giám định số 17/KL- HĐĐGTS ngày 20/02/205 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: “Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S24 Ultra, số seri R5CY32FR6TP; số Imei: 353437173516094; số Imei2: 354536293516097, cũ đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 04/12/2024 có giá 18.000.000 đồng. Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max, số seri: F12Y9HMVVN; số máy MYWX3VN/A; số Imeil: 351613328168385; số Imei2: 351613322383824, cũ đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 04/12/2024 có giá là 28.500.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản cần định giá là 46.500.000 đồng.”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý tiền án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa: Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng hơn 22 giờ 40 phút ngày 04/12/2024 tại nhà anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1985 ở thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn N có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, trị giá 28.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S24 Ultra, trị giá 18.000.000 đồng của anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1982 ở cùng thôn. Tổng trị giá tài sản Nhường trộm cắp là 46.500.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Hành vi của Nguyễn Văn N đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn phải nuôi bố bị bệnh ung thư nhiều năm, phải nuôi mẹ già bệnh yếu, do hành động bột phát nên đã phạm tội. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, và áp dụng trong mức hình phạt đại diện VKS đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án: Đối với cháu Nguyễn Minh P1 là người được N cho chiếc điện thoại Iphone 16 Promax để đem đi bán; anh Trương Công G là người mua chiếc điện thoại do N trộm cắp nhưng cả cháu P1 và anh G đều không biết rõ đây là tài sản do N trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với cháu P1 và anh G là có căn cứ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/3/2025, bị cáo N tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Phạm Văn Đ số tiền 15.000.000 đồng. Anh Đ đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax và 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra là tài sản cá nhân của anh Phạm Văn Đ, ngày 24/3/2025 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 chiếc điện thoại này cho anh Đ. HĐXX xét thấy là phù họp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với sim số điện thoại lắp trong 02 chiếc điện thoại trộm cắp N khai đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -VKSND, Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang
  • -Cổng TTĐT Tòa án;
  • -Bị cáo;
  • -UBND nơi bị cáo cư trú;
  • -Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HSST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 49/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger