|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HSST
Ngày: 08/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Thủy.
- Bà Hồ Thị Phi Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Lại Nguyên Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã tiến hành xét sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/HSST ngày 21/02/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 24/3/2025 đối với bị cáo:
Hồ Thị C (Tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10/10/2005, tại tỉnh Quảng Trị; CCCD số: [...]; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện nay: 3/6/1 Đ, phường P, quận T, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Vân Kiều; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hồ Mân Đ, sinh năm: 1983; Con bà: Hồ Thị T, sinh năm: 1985; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; Chồng, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/10/2024 cho đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị C: Bà Đỗ Thị Thanh H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
Bị hại: Chị Hồ Thị C1, sinh năm 2005; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
Người làm chứng:
- Chị Hồ Thị Pa H1, sinh năm 2004; Địa chỉ thường trú: thôn B, huyện D, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Chị HồThị C2, sinh năm 2001; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 9/2023, Hồ Thị C và chị Hồ Thị C1(sinh ngày: 05/3/2005; nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị) vào nhập học trường Cao Đẳng Y nên cùng nhau thuê trọ tại địa chỉ số C Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P thuộc quận T, thành phố H). Sau đó, C tham gia chương trình nạp tiền để nhận quà trúng thưởng trên mạng internet. Theo thể lệ, C phải nộp khoản tiền ứng trước vào số tài khoản 4364333979 ngân hàng V có tên chủ tài khoản là "NGUYEN THI MỸ LINH" để làm nhiệm vụ và nhận thưởng. Sau một thời gian tham gia thì C hết tiền để nộp, khi nào có tiền nộp thêm thì mới được tiếp tục tham gia nhận thưởng.
Đến ngày 19/3/2024, do chị C1 quên mật khẩu đăng nhập tài khoản ngân hàng nên rủ C cùng đi đến ngân hàng để làm thủ tục cấp lại mật khẩu. Tại đây, khi chị C1 đang làm thủ tục với nhân viên ngân hàng thì C đứng phía sau và nhìn thấy mật khẩu tài khoản đăng nhập của chị C1. Khi ra về, do C tiếc số tiền đã nộp trước đó để tham gia nhận giải thưởng, cùng với việc đã biết mật khẩu tài khoản ngân hàng của chị C1 nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản của chị C1 để nộp vào trò chơi, tiếp tục nhận thưởng.
Thực hiện ý định, khi về đến phòng trợ tại địa chỉ số C Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P thuộc quận T, thành phố H), C lấy lí do mượn điện thoại của chị C1 đề kích hoạt tài khoản ngân hàng của C thì chị C1 đồng ý. Sau khi nhận được điện thoại, trong ngày 19/3/2024, C đã mở ứng dụng Viettinbank Ipay, lén lút đăng nhập vào 02 tài khoản của chị C1 (số tài khoản 109879873905 và số tài khoản 101879735189), tự mình thực hiện 06 (sáu) lần chuyển tiền từ tài khoản của chị C1 sang tài khoản ngân hàng V1 số [...] của C, chiếm đoạt tổng số tiền 20.473.000 đồng, cụ thể như sau:
Đối với tài khoản 109879873905, C thực hiện 02 (hai) lần chuyển tiền:
- Lần 1: Khoảng 08 giờ 03 phút, chuyển số tiền 12.600.000 đồng.
- Lần 2: Khoảng 17 giờ 04 phút, chuyển số tiền 755.000 đồng.
Đối với tài khoản 101879735189, C thực hiện 04 (bốn) lần chuyển tiền:
- Lần 1: Khoảng 10 giờ 33 phút, chuyển số tiền 400.000 đồng.
- Lần 2: Khoảng 12 giờ 06 phút, chuyển số tiền 1.250.000 đồng.
- Lần 3: Khoảng 12 giờ 16 phút, chuyển số tiền 1.250.000 đồng.
- Lần 4: Khoảng 17 giờ 03 phút, chuyển số tiền 4.218.000 đồng.
Sau khi chuyển được tiền vào tài khoản của mình, trong ngày 19/3/2024, C tiếp tục chuyển 12.602.333 đồng vào số tài khoản 0902099851 tên “DUONG CHI THANH” và tổng số tiền 7.850.000 vào số tài khoản 4364333979 tên “NGUYEN THỊ MY LINH” của ngân hàng V.
Vào ngày 10/6/2024, chị C1 đi ra ngân hàng để rút tiền đóng học phí thì phát hiện trong tài khoản ngân hàng bị mất tiền nên đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V2 và 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của chị Hồ Thị C1.
- 01 (một) bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của Hồ Thị C.
* Xử lý vật chứng:
Chuyển 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] và 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của chị Hồ Thị C1, 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của Hồ Thị C theo hồ sơ vụ án phục vụ công tác xét xử.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Hồ Thị C đã bồi thường số tiền 19.473.000 cho bị hại Hồ Thị C1, số tiền 1.000.000 đồng còn lại do thấy C có hoàn cảnh khó khăn nên chị C1 không yêu cầu C phải bồi thường, ngoài ra chị C1 không có yêu cầu gì khác.
Tại cáo trạng số 59/CT -VKSTH ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Hồ Thị C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Thị C phạm tội” Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hồ Thị C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hồ Thị C đã bồi thường số tiền 19.473.000 cho bị hại Hồ Thị C1, số tiền 1.000.000 đồng còn lại do thấy bị cáo C có hoàn cảnh khó khăn nên chị C1 không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường, ngoài ra chị C1 không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có đơn xin miễn án phí và thuộc diện được miễn án phí theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo C.
Tại phiên tòa Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị C nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H, tuy nhiên người bào chữa cho bị cáo C cho rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Sau khi gây án bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại đồng thời bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hồ Thị C từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Thị C không phải chịu án phí, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có đơn xin miễn án phí và thuộc diện được miễn án phí theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong ngày 19/3/2024 tại địa chỉ số C Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P thuộc quận T, thành phố H), do thiếu tiền tiêu xài việc cá nhân nên Hồ Thị C đã lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tổng số tiền 20.473.000 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm bảy mươi ba nghìn đồng) trong tài khoản ngân hàng của chị Hồ Thị C1. Hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Thị C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H truy tố bị cáo Hồ Thị C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hồ Thị C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do bản tính tham lam, lười lao động bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chị Hồ Thị C1 trong việc quản lý và bảo vệ tài sản nên đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị C1. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và làm gương cho người khác.
[4].Về trình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
- Về tình tiết tằng nặng: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo được quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kểm sát nhân dân quận T tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 và 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của chị Hồ Thị C1, 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của Hồ Thị C.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Thị C thuộc diện hộ nghèo, ở vùng kinh tế khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử thấy bị cáo C được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Hồ Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị C 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hồ Thị C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên xử:
Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 và 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của chị Hồ Thị C1, 01 bản sao kê tài khoản tài khoản ngân hàng V1 số [...] của Hồ Thị C.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q; Bị cáo Hồ Thị C thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án số 49/2025/HSST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị C và Hồ Thị C1 là vào nhập học trường Cao Đẳng Y nên cùng thuê phòng trọ ở chung. Sau đó, C tham gia chương trình nạp tiền để nhận quà trúng thưởng trên mạng internet. Theo thể lệ, C phải nộp khoản tiền ứng trước vào số tài khoản 4364333979 ngân hàng V có tên chủ tài khoản là "NGUYEN THI MỸ LINH" để làm nhiệm vụ và nhận thưởng. Sau một thời gian tham gia thì C hết tiền để nộp, khi nào có tiền nộp thêm thì mới được tiếp tục tham gia nhận thưởng. Đến ngày 19/3/2024, do chị C1 quên mật khẩu đăng nhập tài khoản ngân hàng nên rủ C cùng đi đến ngân hàng để làm thủ tục cấp lại mật khẩu. Tại đây, khi chị C1 đang làm thủ tục với nhân viên ngân hàng thì C đứng phía sau và nhìn thấy mật khẩu tài khoản đăng nhập của chị C1. Khi ra về, do C tiếc số tiền đã nộp trước đó để tham gia nhận giải thưởng, cùng với việc đã biết mật khẩu tài khoản ngân hàng của chị C1 nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản của chị C1 để nộp vào trò chơi, tiếp tục nhận thưởng. Thực hiện ý định, khi về đến phòng trợ tại địa chỉ số C Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P thuộc quận T, thành phố H), C lấy lí do mượn điện thoại của chị C1 đề kích hoạt tài khoản ngân hàng của C thì chị C1 đồng ý. Sau khi nhận được điện thoại, trong ngày 19/3/2024, C đã mở ứng dụng Viettinbank Ipay, lén lút đăng nhập vào 02 tài khoản của chị C1 (số tài khoản 109879873905 và số tài khoản 101879735189), tự mình thực hiện 06 (sáu) lần chuyển tiền từ tài khoản của chị C1 sang tài khoản ngân hàng V1 số 101879735191 của C, chiếm đoạt tổng số tiền 20.473.000 đồng
