|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 49/2025/ HS-ST Ngày: 26/03/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng;
Ông Nguyễn Văn Luận.
-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên toà: Ông ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/ 2025/TLST-HS, ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đinh Văn N (tên gọi khác: không), sinh năm 2004; tại tỉnh Đắc Lắc; Nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nơi ở trước khi bị bắt: thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn Q và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC-CAPNK ngày 03/01/2020, Công an phường N, thành phố N xử phạt cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. (đã được xóa)
Bản án số 57/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. ( đã được xóa).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; (có mặt).
- Họ và tên: Trịnh Hồng S (tên gọi khác: không), sinh năm 1997; tại thành phố H, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm V, xã N, huyện H (nay là phường N, thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Đình L và bà Nguyễn Thị V; Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1999. Địa chỉ: thôn P, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang chấp hành án tại phân trại số D, Trại giam T1, Bộ C, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).
* Người làm chứng, người chứng kiến: Anh Đặng Quốc H1, sinh năm 1986. (Vắng mặt).
* Người chứng kiến:
- - Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1962. (Vắng mặt).
- - Anh Linh Quang H2, sinh năm 1983. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 31/5/2024, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an phường N, thành phố N (nay là thành phố H) làm nhiệm vụ tại khu vực đường L, thuộc phố K, phường N, thành phố N phát hiện Trịnh Hồng S và Nguyễn Văn L1 có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra Trịnh Hồng S phát hiện thu giữ ở tay trái 01 túi nilon màu trắng, có viền màu đỏ, kích thước (8x13,5)cm bên trong chứa 05 viên nén màu ghi hình dạng không xác định, S khai nhận cất giấu ma túy để bán cho Nguyễn Văn L1 với giá 1.750.000 đồng. Tổ công tác thu giữ vật chứng niêm phong vào phong bì ký hiệu Q1. Ngoài ra còn thu giữ của Trịnh Hồng S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0965.407.135 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter dán tem MXKING Biển kiểm soát 35B2-343.32 (kiểm tra xe không phát hiện thu giữ gì); thu giữ của Nguyễn Văn L1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0325.183.489. Sau đó đưa S, L1 cùng tang vật và người làm chứng, chứng kiến về Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại công an S khai nhận số ma túy trên là mua của Đinh Văn N.
Căn cứ lời khai của S, ngày 31/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Văn N (tại nhà của anh Nguyễn Văn N1) ở thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình thu giữ trong túi quần bên phải của N 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong có 05 viên nén màu ghi. N khai nhận đây là 05 viên ma túy kẹo của N cất giấu để bán cho S. Cơ quan điều tra đã niêm phong vật chứng vào phong bì ký hiệu K1. Ngoài ra còn thu giữ của N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0984.362.xxx và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a Biển kiểm soát 35N1-524.09 (kiểm tra xe không phát hiện thu giữ gì). Sau khi khám xét Cơ quan điều tra đã đưa Đinh Văn N cùng tang vật và những người liên quan về trụ sở Công an tỉnh N để làm việc.
* Quá trình điều tra xác định như sau:
Đinh Văn N ở nhờ nhà của anh Nguyễn Văn N1 tại thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình từ khoảng tháng 2 năm 2024. Khoảng đầu tháng 4 năm 2024, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave a Biển kiểm soát 35N1-524.09 đến khu vực bờ đê xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy “Kẹo”. Tại đây N gặp và hỏi mua 10 viên ma túy “Kẹo” màu ghi được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng với giá 2.500.000 đồng của một người nam giới (N không rõ tên tuổi, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy, N mang về nhà anh N1 cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời.
Trịnh Hồng S có mối quan hệ quen biết với Đinh Văn N và biết N có bán ma túy “Kẹo” nên khoảng 11 giờ ngày 17/5/2024, S gọi điện qua phần mềm Messenger từ tài khoản “Trịnh Hải L3” của mình đến tài khoản “Nhật Ank” của N hỏi “Em ơi còn cúc không để cho anh năm cái” - ý S hỏi mua 05 viên ma túy “Kẹo” của N, N đồng ý và nói giá 300.000 đồng/01 viên. N hẹn S đến khu vực trường L6 thuộc thôn Đ, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để bán ma túy. Sau đó N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave a Biển kiểm soát 35N1-524.09 và S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter Biển kiểm soát 35B2-343.32 đến địa điểm đã hẹn. Tại đây S đưa cho N số tiền 1.500.000 đồng, N cầm tiền và đưa cho S 01 túi nilon màu trắng bên trong có 05 viên ma túy “Kẹo” màu ghi rồi đi về nhà anh N1. S mang túi ma túy về nhà cất giấu mục đích ai hỏi mua thì bán. N đã tiêu sài cá nhân hết số tiền bán ma túy cho S.
Nguyễn Văn L1 là người sử dụng ma túy. Qua bạn bè xã hội giới thiệu biết Trịnh Hồng S có bán ma túy “Kẹo” nên khoảng 13 giờ, ngày 31/5/2024, L1 sử dụng số điện thoại 0325.183.xxx gọi điện thoại đến số điện thoại 0965.407.xxx của S hỏi mua 05 viên ma túy “Kẹo”, S đồng ý và nói giá 350.000 đồng/01 viên. S hẹn L1 đến khu vực đường L, phố K, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để bán ma túy. Sau khi đồng ý bán 05 viên ma túy kẹo cho L1, S nghĩ sẽ sử dụng số tiền bán ma túy có được để mua ma túy về ai hỏi thì bán tiếp. S gọi điện qua phần mềm Messenger từ tài khoản “Trịnh Hải L3” của S đến tài khoản “Nhật Ank” của N hỏi mua 05 viên ma túy “Kẹo” với giá 1.500.000 đồng, N đồng ý và tiếp tục hẹn S đến khu vực trường L6 để bán ma túy, N nói với S khi nào đến nơi thì gọi điện để N mang ma túy ra bán cho S ( số ma túy này N chưa kịp bán cho S và bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét tại nơi ở của N ngày 31/5/2024). Sau khi trao đổi mua bán ma túy với N, S điều khiển điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter Biển kiểm soát 35B2-343.32 mang theo 05 viên ma túy “Kẹo” (là số ma túy mà S đã mua của N vào ngày 17/5/2024) đến địa điểm đã hẹn với L1 để bán ma túy cho L1 như đã thống nhất. Còn L1 sau khi hẹn mua ma túy của S, do không vay được tiền nên L1 đi bộ đến điểm hẹn để nói với S không mua ma túy nữa. Khi S và L1 gặp nhau, L1 nói không mua ma túy nữa thì bị Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an phường N, thành phố N ( nay là thành phố H) bắt giữ.
Quá trình điều tra còn xác định Trịnh Hồng S còn 1 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn L1 cụ thể: Ngày 13/5/2024 Trịnh Hồng S có ý định mua ma túy để bán kiếm lời nên S gọi điện qua phần mềm Mesenger cho Đinh Văn N hỏi mua 04 viên ma túy dạng kẹo, N hẹn S đến hông Trường L6 để bán ma túy cho S ( tuy không thống nhất giá nhưng S biết giá 300.000 đồng/viên). Sau khi trao đổi xong, S điều khiển xe máy BKS 35B2-343.32 đi đến địa điểm như N đã hẹn . Khoảng 5 phút sau N đến, S đưa cho N 1.200.000 đồng, N cầm tiền và đưa cho S 01 túi ni lon bên trong có 4 viên ma túy dạng kẹo màu ghi. S bỏ ma túy vào túi quần và mang về nhà cất giấu mục đích ai hỏi mua thì bán. Khoảng 18 giờ ngày 15/5/2024, Nguyễn Văn L1 sử dụng số điện thoại 0325.183.xxx gọi điện thoại đến số điện thoại 0965.407.xxx của S hỏi mua 04 viên ma túy “Kẹo”, S đồng ý và nói giá 350.000 đồng/01 viên. S hẹn L1 đến nhà S tại xóm V, xã N, huyện H (nay là phường N, thành phố H), tỉnh Ninh Bình để bán ma túy. Sau đó L1 thuê xe taxi đi đến nhà S như đã hẹn, S cầm 04 viên ma túy “Kẹo” đi ra đầu ngõ gần nhà để bán cho L1. Khi thấy L1 thì S vẫy tay để L1 đi vào một ngõ ở gần nhà mình. Tại đây L1 đưa cho S số tiền 1.400.000 đồng, S cầm tiền và đưa cho L1 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói được gói ngoài bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bên trong chứa 04 viên ma túy “Kẹo” màu ghi. Sau đó L1 mang số ma túy mua được về nhà sử dụng hết. S tiêu sài cá nhân hết số tiền bán ma túy.
Quá trình điều tra Đinh Văn N không thừa nhận hành vi bán 04 viên ma túy dạng kẹo cho Trịnh Hồng S vào ngày 13/5/2024 như S đã khai báo; Đinh Văn N chỉ khai nhận hành vi bán trái phép 05 viên ma túy dạng kẹo cho Trịnh Hồng S vào ngày 17/5/2024 lấy 1.500.000 đồng và cất giấu 5 viên ma túy dạng kẹo mục đích bán cho Trịnh Hồng S ngày 31/5/2024 nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Trịnh Hồng S khai nhận 3 lần mua ma túy của Đinh Văn N, 02 lần bán trái phép ma túy cho Nguyễn Văn L1 trong đó ngày 15/5/2024 bán cho L1 05 viên ma túy dạng kẹo lấy 1.400.000 đồng và cất giấu 5 viên ma túy dạng kẹo mục đích bán cho Lân ngày 31/5/2024 nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ.
Tiến hành cân xác định khối lượng 05 viên nén màu ghi thu giữ của Trịnh Hồng S có khối lượng là 1,9852 gam (ký hiệu M1); khối lượng 05 viên nén màu ghi thu giữ của Đinh Văn N có khối lượng là 1,9329 gam (ký hiệu M2) gửi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 496/KL-KTHS-MT ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 1,9852 gam, là ma túy, loại MDMA. Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 1,9329 gam, là ma túy, loại MDMA. MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H3 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 1,9093 gam ký hiệu M2 còn lại có khối lượng 1,8745 gam, đều là ma túy, loại MDMA.
Khám xét chỗ ở của Trịnh Hồng S không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Kiểm tra điện thoại OPPO màu đen lắp sim số 0965407135 thu giữ của Trịnh Hồng S: có các cuộc gọi đi, gọi đến, gọi nhỡ với số 0325183489 của L1 vào ngày 15/5/2024 và ngày 31/5/2024 ; có tin nhắn từ số 0325183489 của Lân ngày 31/5/2024 , tin nhắn, cuộc gọi messenger trên mạng xã hội fabook giữa tài khoản “Trịnh Hải L3” của S với tài khoản “Nhật Ank” của Đinh Văn N liên quan đến việc trao đổi mua bán ma túy.
Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu đen lắp sim số 0325183489 thu giữ của Nguyễn Văn L1: có các cuộc gọi đi, gọi đến, gọi nhỡ với số 0942579682 của S, có 01 File video tên “1715770655261", L1 khai là video do L1 tự quay lại quá trình mua ma túy của S ngày 15/5/2024 và 01 file âm thanh tên “ghi âm cuộc gọi S, MT N-240531-121547.m4a”, L1 khai là nội dung cuộc điện thoại giữa L1 và S để trao đổi mua bán ma túy ngày 31/5/2024.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N lập biên bản làm việc cho S nghe, xem file ghi âm và video, S xác nhận nội dung như L1 khai nhận.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím lắp sim số 0984362738 thu giữ của Đinh Văn N: không có nội dung liên quan đến hành vi mua bán ma túy. N khai chiều ngày 31/5/2024 S có gọi điện, nhắn tin cho N hỏi mua 5 viên thuốc lắc. N đồng ý. Sau khi trao đổi xong N đã xóa cuộc gọi và nội dung tin nhắn ở messenger.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định 01 file video, file âm thanh. Tại bản kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file mẫu cần giám định (file video). Tại bản kết luận giám định số 8588 ngày 17/12/2024 của V1 Bộ C kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file mẫu cần giám định;(file âm thanh).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại chiếc điện thoại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cho anh Đinh Hồng G;
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a Biển kiểm soát 35N1-524.09 cho anh Nguyễn Văn N1 và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư để giải quyết cùng vụ án: số ma túy còn lại hoàn trả sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 496/KL-KTHS-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu; 01 chiếc sim điện thoại số 0325.183.xxx thu của Nguyễn Văn L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0965.407.135 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (dán tem MXKING) Biển kiểm soát 35B2-343.32 thu của Trịnh Hồng S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0984.362.xxx thu của Đinh Văn N.
Quá trình điều tra, Đinh Văn N và Trịnh Hồng S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản cáo trạng số 24/CT- VKSNDTPHL, ngày 22 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình truy tố các bị cáo Đinh Văn N, Trịnh Hồng S ra trước Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn N, Trịnh Hồng S phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- - Áp dụng: điểm b, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt: bị cáo Đinh Văn N từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/5/2024.
- - Xử phạt: Bị cáo Trịnh Hồng S từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/5/2024.
- - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 đồng.
Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng - 12.000.000 đồng.
Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng - 12.000.000 đồng.
+ Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại hoàn trả sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 496/KL-KTHS-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu; 01 chiếc sim điện thoại số 0325.183.xxx thu của Nguyễn Văn L1 là những vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0965.407.135 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (dán tem MXKING) Biển kiểm soát 35B2-343.32 thu của Trịnh Hồng S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0984.362.xxx thu của Đinh Văn N là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
+ Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đồng của Đinh Văn N là số tiền do N bán ma túy cho S mà có.
+ Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.400.000 đồng của Trịnh Hồng S là số tiền do S bán ma túy cho L1 mà có.
* Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Văn N, Trịnh Hồng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên;
Bị cáo S khai chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (dán tem MXKING) BKS 35B2-343.32 là xe của anh H2 đã cắm cho bị cáo để lấy 7 triệu đồng. Khi cắm xe không có giấy tờ chỉ thỏa thuận miệng, anh H2 cầm giấy đăng ký xe hẹn sau 1 tháng anh H2 quay lại để trả tiền và lấy xe nếu không đến trả tiền thì chiếc xe sẽ thuộc quyền sở hữu của bị cáo, do là bạn bè nên không tính lãi suất. Bị cáo xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đi mua bán ma túy.
Bị cáo N và bị cáo S không có ý kiến tranh luận gì; Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; biên bản mở niêm phong kiểm tra điện thoại của các bị cáo, anh Nguyễn Văn L1; file ghi âm cuộc gọi giữa anh L1 và bị cáo S trao đổi mua bán ma túy ngày 31/5/2024, video ghi lại quá trình giao dịch mua bán dung dịch ma túy giữa bị cáo S và anh L1 ngày 15/5/2024; kết luận giám định số 496/KL-KTHS-MT ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, biên bản làm việc và phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn L1, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến...Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
- - Đinh Văn N đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Trịnh Hồng S:
- - Trịnh Hồng S đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn L1:
Lần thứ nhất: khoảng hơn 11 giờ ngày 17/5/2024, tại khu vực trường L6 thuộc thôn Đ, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, Đinh Văn N có hành vi bán trái phép 05 viên ma túy, loại MDMA cho anh Nguyễn Văn L1 lấy 1.500.000 đồng.
Lần thứ 2: khoảng 18 giờ ngày 31/5/2024, tại thôn T, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, Đinh Văn N có hành vi cất giấu trái phép 1,9329 gam ma túy, loại MDMA nhằm mục đích bán trái phép cho Trịnh Hồng S nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ.
Lần thứ nhất: khoảng hơn 18 giờ ngày 15/5/2024, tại xóm V, xã N, huyện H (nay là phường N, thành phố H), tỉnh Ninh Bình, Trịnh Hồng S có hành vi bán trái phép 04 viên ma túy, loại MDMA cho anh Nguyễn Văn L1 lấy 1.400.000 đồng.
Lần thứ 2: khoảng 14 giờ 50 phút ngày 31/5/2024, tại đường L, phố K, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, Trịnh Hồng S có hành vi cất giấu trái phép 1,9852 gam ma túy, loại MDMA nhằm mục đích bán trái phép cho anh Nguyễn Văn L1 với giá 1.750.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Đinh Văn N, Trịnh Hồng S đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Điều 251.Tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
-
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a).........
b) Phạm tội 02 lần trở lên.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác...Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo Nhật 1 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 1 lần bị kết án tuy đã được xóa nhưng cho thấy bị cáo là người có nhân thân không tốt. Bị cáo S có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, thống nhất, thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên chịu mức hình phạt tương ứng với hành vi của từng bị cáo.
[2] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho các bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Mức hình phạt của bị cáo N sẽ cao hơn so với bị cáo S do bị cáo N có nhân thân không tốt.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 251 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo là lao động tự do không xác định được thu nhập, tại phiên tòa bị cáo N khai làm bếp cho nhà hàng thu nhập khoảng 7.500.000 đồng/tháng; bị cáo S khai làm shipper thu nhập khoảng 5.000.000 đồng, thu nhập thấp nên xem xét phạt tiền ở mức đầu khung.
[3] Các vấn đề khác:
[3.1] Về nguồn gốc số ma túy mà bị cáo N bán cho bị cáo S: quá trình điều tra bị cáo N khai mua của người nam giới không quen biết tại khu vực bờ đê xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Về nguồn gốc số ma túy mà bị cáo S đã bán cho anh Nguyễn Văn L1 ngày 15/5/2024: quá trình điều tra bị cáo S khai mua của bị cáo N vào ngày 13/5/2024 với giá 1.200.000 đồng. Bị cáo N không thừa nhận, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa bị cáo S và và bị cáo N. Tuy nhiên, bị cáo N xác định không bán ma túy cho bị cáo S vào ngày 13/5/2024. Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của bị cáo S thì không có các tài liệu, chứng cứ nào khác, vì vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với bị cáo N về hành vi trên.
[3.2] Đối với anh Nguyễn Văn L1 đã có hành vi mua ma túy của bị cáo S để sử dụng ngày 15/5/2024, tuy nhiên ngoài lời khai của anh L1 thì không có căn cứ nào khác xác định việc sử dụng ma túy này, vì vậy không đủ căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo cho chính quyền địa phương biết để theo dõi, quản lý theo quy định. Ngày 31/5/2024, sau khi hẹn mua ma túy của bị cáo S, do không vay được tiền nên anh L1 đã đi đến điểm hẹn để nói với bị cáo S không lấy ma túy nữa. Khi gặp nhau thì bị cáo S cũng chưa đưa ma túy cho anh L1 nên không đủ căn cứ để xử lý đối với anh L1.
[3.3] Đối với anh Nguyễn Văn Nghĩa L4 người cho bị cáo N đến ở nhờ nhà của mình từ khoảng tháng 02/2024, anh N1 không biết việc bị cáo N cất giấu trái phép chất ma túy tại nhà mình để bán cho người khác nên không đồng phạm với bị cáo N.
[3.3] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0325.183.489 thu của anh Nguyễn Văn L1: Quá trình điều tra xác định chiếc sim điện thoại số 0325.183.xxx là của anh L1, còn chiếc điện thoại là tài sản hợp pháp của anh Đinh Hồng G, sinh năm 1985, trú tại phố P, phường T, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Ngày 14/05/2024 anh L1 mượn điện thoại của anh G để liên lạc, anh G không biết việc anh L1 sử dụng chiếc điện thoại của mình để thực hiện hành vi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh G là có căn cứ, đúng quy định. Chiếc sim điện thoại số 0325.183.xxx anh L1 sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy của bị cáo S không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave a Biển kiểm soát 35N1-524.09 thu giữ của bị cáo N: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn N1. Sáng ngày 31/5/2024 anh N1 cho bị cáo N mượn chiếc xe trên để đi lại, anh N1 không biết việc bị cáo N đã sử dụng để đi bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh N1 (Anh N1 đã ủy quyền cho chị Trần Thị Thu T là vợ của anh N1 nhận lại) là đúng quy định.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0965.407.135 thu giữ của bị cáo S: Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại là tài sản của bị cáo S sử dụng làm công cụ, phương tiện để liên lạc mua bán ma túy với anh L1, bị cáo N nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với số ma túy còn lại hoàn trả sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 496/KL-KTHS-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu: trong đó ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, các đồ vật đựng ma túy, vỏ bao gói niêm phong khác không có giá trị sử dụng dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (dán tem MXKING) Biển kiểm soát 35B2-343.32 thu của bị cáo S: quá trình điều tra xác định đăng ký xe mang tên anh Vũ Đại Q1; trú tại thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Năm 2021 anh Q1 bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn H4 với giá 25 triệu đồng. Anh H4 khai tháng 11 năm 2023 anh H4 cắm chiếc xe trên cho bị cáo S lấy 7 triệu đồng, không có giấy tờ cắm xe thỏa thuận 1 tháng sau sẽ quay lại trả tiền để lấy xe nếu không lấy thì coi như bị mất xe, giấy tờ đăng ký xe anh H4 đã làm thất lạc; Bị cáo S sử dụng chiếc xe làm công cụ phương tiện phạm tội bị công an thu giữ nếu bị tịch thu xe anh H4 nhất trí không có ý kiến gì vì chiếc xe thuộc quyền sở hữu của bị cáo S. Bị cáo S cũng xác nhận lời khai như của anh H4. Như vậy xác định chiếc xe là tài sản của bị cáo S, bị cáo S sử dụng chiếc xe để đi mua bán trái phép chất ma túy là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền bị cáo N đã bán ma túy cho bị cáo S ngày 17/5/2024 được 1.500.000 đồng và số tiền 1.400.000 đồng bị cáo S bán ma túy cho anh L1 ngày 15/5/2024 đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà có nên cần buộc các bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.
- [2.7] Các Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- [2.8] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tuy nhiên về hình phạt bổ sung Hội đồng xét xử xem xét phạt ở mức đầu khung thấp hơn so với mức mà kiểm sát viên đề nghị như đã nhận định tại phần hình phạt bổ sung.
- [3] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
- 1 - Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn N, Trịnh Hồng S phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
-
2 - Xử phạt:
- - Bị cáo Đinh Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ ngày 31/5/2024.
- - Bị cáo Trịnh Hồng S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ ngày 31/5/2024.
Phạt tiền bổ sung 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Phạt tiền bổ sung 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
-
3. Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- 3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật mặt phong bì có ghi “số 496/KL-KTHS-MT; Mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Trịnh Hồng S, SN 1997 và Đinh Văn N, SN 1997, cất giấu trái phép chất ma túy để bán, xảy ra ngày 31/5/2024, tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình; mẫu vật hoàn trả gồm: M1= 1,9093 gam; M2 = 1,8745 gam, là ma túy, loại MDMA; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong”; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu B; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật trên mặt phong bì có ghi “ 01 sim số 0325.183.489 thu giữ của Nguyễn Văn L1 và hai vỏ phong bì niêm phong ban đầu” ký hiệu L.
- 3.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0984.362.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0965.407.135; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (dán tem MXKING) Biển kiểm soát 35B2-343.32, số khung RLCUG0610HY552153, số máy G3D4E-576479;
- 3.3. Buộc bị cáo Đinh Văn N phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có để tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 3.4. Buộc bị cáo Trịnh Hồng S phải nộp lại số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có để tịch thu sung quỹ nhà nước.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/2/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).
- 4 - Về án phí: Các bị cáo Đinh Văn N, Trịnh Hồng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Giang Thị Thúy Thu |
Bản án số 49/2025/ HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2025/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nh 8 năm S 7 năm 6 tháng
