Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Tiến Chuyển

Bà: Trần Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 04/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:

Cồ Thị Ú, sinh năm 1981; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: T, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cồ Như K (đã chết); Con bà: Vũ Thị N, sinh năm 1945; Gia đình có 09 anh chị em; Bị cáo là con thứ 07; Chồng: Hoàng Văn H, sinh năm 1980 (đã ly hôn năm 2017); Con có 03 con: lớn nhất sinh năm 2007; nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 15/3/2006, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 1.860.000 đồng) - Đã xóa án tích.

Bị cáo đầu thú. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1987. Địa chỉ: Căn hộ I tòa H chung cư F, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/09/2024, Cồ Thị Ú đến làm giúp việc toàn thời gian cho gia đình chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm: 1987; HKTT: TDP số 5, L, H, Hà Nội tại căn hộ S tòa H chung cư F, phường Đ, N, Hà Nội thông qua sự giới thiệu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1 địa chỉ tại số A đường P, M, N, Hà Nội). Quá trình làm việc, dọn dẹp phòng ngủ của chị Lan A, Ú thấy chiếc thẻ tín dụng (Visa) số 452404...8732 (thẻ được tích hợp với tài khoản số 0011004046996 mở tại ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 mang tên Nguyễn Thị Lan A) bị rơi ra từ túi xách của chị Lan A. Do Ú biết đây là loại thẻ sử dụng bằng hình thức quẹt để thanh toán mà không cần mật khẩu nên Ú đã lấy trộm chiếc thẻ trên mục đích để chiếm đoạt tiền trong thẻ qua hình thức thanh toán tiền mua hàng. Sau đó, đến ngày 03/10/2024, Ú xin nghỉ giúp việc cho gia đình chị Lan A và mang theo chiếc thẻ Visa đã lấy của chị Lan A.

Đến khoảng 11 giờ 40 phút ngày 08/10/2024, Cồ Thị Ú đem theo thẻ Visa lấy trộm của chị Lan A đến Trung tâm V1 (số A N, phường M, quận N, Hà Nội) để mua trang sức và được chị Đỗ Quỳnh C, sinh năm: 1999, HKTT: Tập thể Viện Lao, C, B, Hà Nội tư vấn sản phẩm nên Ú đã đưa chiếc thẻ Visa lấy của chị Lan A cho chị C và nhờ quẹt thử để kiểm tra xem trong thẻ có bao nhiêu tiền. Chị C bảo Ú phải mua hàng thì chị C mới quẹt thẻ vì quẹt thẻ sẽ bị trừ tiền, không được hoàn lại và chỉ cho Ú xem các sản phẩm có thể thanh toán bằng hình thức quẹt thẻ. Sau khi xem, Ú đã chọn mua 01 nhẫn nữ gắn đá trị giá 17.400.000 đồng và đưa thẻ Visa cho C để quẹt thẻ thanh toán. Trước khi quẹt thẻ, chị C hỏi lại Ú có chắc chắn lấy sản phẩm này không thì Ú bảo quẹt thẻ thanh toán được thì lấy. Sau đó, chị C đã đưa thẻ Visa cho quản lý là anh Trần Thuận T, sinh năm: 1991, HKTT: số A Ngách B, Ngõ T, T, Đ, Hà Nội) để quẹt thẻ thanh toán thành công. Sau đó, Ú đã chọn mua thêm 01 đôi hoa tai nữ, vàng 18K trị giá 8.480.000 đồng và được anh T thanh toán quẹt thẻ thành công. Lúc này, chị C hỏi thông tin cá nhân của Ú để viết hóa đơn thì Ú đưa thẻ V và bảo ghi theo thông tin trên thẻ. Chị C xem trên thẻ Visa thấy chủ thẻ tên là Nguyễn Thị Lan A thì hỏi căn cước công dân của Ú thì Ú bảo không mang theo. Chị C tiếp tục hỏi Ú có ứng dụng định danh điện tử VNeID không thì Ú bảo không biết và cung cấp năm sinh là 1987 nên chị C bảo Ú về nhà chụp căn cước công dân gửi cho chị C thì Ú đồng ý và cho số điện thoại 0986.298.xxx để chị C liên lạc. Sau khi xuất hóa đơn xong, chị C đưa hóa đơn cho Ú ký thì Ú ký và ghi tên là Vân A1 nên chị C thắc mắc thì Ú bảo ký thế cho nhanh. Chị C sau đó đã in bản hóa đơn khác và yêu cầu Ú ký đúng theo tên trên thẻ thì Ú ký vào 02 hóa đơn thanh toán là Lan A và cầm thẻ đi về. Trên đường về, Ú đã vứt chiếc thẻ Visa lấy của chị Lan A (Ú không nhớ rõ địa điểm đã vứt chiếc thẻ Visa trên). Chị C sau đó đã gọi điện thoại theo số điện thoại Ú cho để lấy hình ảnh căn cước công dân thì Ú đã chặn liên lạc.

Đến trưa ngày 08/10/2024, chị Nguyễn Thị Lan A nhận được tin nhắn của ngân hàng thông báo thẻ Visa của chị Lan A bị trừ tổng số tiền là 25.880.000 đồng, với nội dung sử dụng tại “VANG BAC DA QUY DOJI HA NOI VN” nên chị Lan A đi tìm thẻ Visa nhưng không thấy và do nghi ngờ Ú đã trộm cắp thẻ nên đã gọi điện thoại và nhắn tin cho Ú để hỏi nhưng không liên lạc được. Chị Lan A sau đó đã nhờ mẹ là Đặng Thị N1 (Sinh năm: 1958, HKTT: M, C, Phú Thọ) đến công an phường Đ, quận N trình báo sự việc.

Đầu tháng 12/2024, sau khi được gia đình thông báo về việc cơ quan điều tra triệu tập, Ú đã đem số trang sức mua tại Trung tâm V1 đi bán tại cửa hàng vàng ở quận H (không xác định địa điểm) được 14.000.000 đồng. Đến ngày 07/12/2024, Ú đã nhờ anh Phạm Hoàng N2 (Sinh năm 1986; HKTT: M, H, Hà Nội) chuyển khoản số tiền 25.000.000 đồng đến tài khoản số 0011004046996 tại ngân hàng V2 của chị Lan A để bồi thường và nhắn tin xin lỗi chị Lan A.

Ngày 28/12/2024, Cồ Thị Ú đến Công an quận N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tổng số Cồ Thị Ú đã trộm cắp tiền trong thẻ bằng cách quẹt thẻ thanh toán tiền mua hàng hóa là 25.880.000 đồng.

Đối với chị Đỗ Quỳnh C và anh Trần Thuận T, quá trình điều tra xác định: khi tư vấn và sử dụng thẻ Visa của chị Nguyễn Thị Lan A để thanh toán, chị C và anh T không biết chiếc thẻ trên do Cồ Thị Ú trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với số trang sức do Ú mua tại Trung tâm V1 và Ú bán tại cửa hàng vàng ở quận H, do Ú không nhớ vị trí cửa hàng nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.

Về dân sự, chị Nguyễn Thị Lan A không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Lời khai nhận tội của Cồ Thị Ú phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu điều tra khác.

Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKSNTL ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Cồ Thị Ú về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Cồ Thị Ú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản mục đích rút tiền tiêu sài cá nhân.

Bị hại - chị Lan A vắng mặt nên không có lời trình bày tại Tòa.

Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 37/CT-VKSNTL ngày 26/02/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cồ Thị Ú từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về dân sự: Chị Lan A đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên không đề cập.

Truy thu số tiền 880.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng, bị cáo Cồ Thị Ú đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Ú đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định:

Từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, Cồ Thị Ú làm giúp việc tại Phòng 915 tòa HH3.2 chung cư F, tổ dân phố T, phường Đ, quận N, Hà Nội cho gia đình chị Nguyễn Thị Lan A. Quá trình giúp việc, Ú đã trộm cắp của chị Lan A 01 thẻ Visa số 452404...8732 được tích hợp với thẻ ngân hàng có số tài khoản 0011004046996 mở tại ngân hàng V2, mục đích để chiếm đoạt tiền trong thẻ qua hình thức quẹt thẻ mua bán hàng hóa. Ngày 08/10/2024, Ú đã sử dụng thẻ Visa trên thanh toán tiền mua trang sức tại Trung tâm V3 tổng số tiền là 25.880.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Cồ Thị Ú đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Cồ Thị Ú là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo Ú là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, tuy nhiên bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp lấy thẻ của bị hại để rút tiền chi tiêu cá nhân, nên cần phải xử lý nghiêm phù hợp với hành vi bị cáo gây ra.

[4] Khi lượng hình phạt, xét bị cáo Ú có nhân thân xấu cụ thể: Ngày 15/3/2006, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội do vậy cần phải xử ý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Đối với chị Đỗ Quỳnh C và anh Trần Thuận T, quá trình điều tra xác định: khi tư vấn và sử dụng thẻ Visa của chị Nguyễn Thị Lan A để thanh toán, chị C và anh T không biết chiếc thẻ trên do Cồ Thị Ú trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với số trang sức do Ú mua tại Trung tâm V1 và Ú bán tại cửa hàng vàng ở quận H, do Ú không nhớ vị trí cửa hàng nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo Ú còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: Bị hại - chị Lan A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Đối với số tiền 880.000 đồng bị cáo Ú chiếm đoạt của chị Lan A. Chị Lan A không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần truy thu để sung công quỹ nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: không.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ú phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ú, bị hại trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Cồ Thị Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Cồ Thị Ú 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Buộc bị cáo truy nộp số tiền 880.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo Cồ Thị Ú phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vật chứng: Không.

Về quyền kháng cáo:

+ Bị cáo Cồ Thị Ú có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại.
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHΝ;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cồ Thị U phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger