Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày 23 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lâm Thuận Tùng.

Thẩm phán: ông Phạm Tấn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Kim Chi, bà Lê Thị Thanh Mai và ông Nguyễn An Hữu.

Thư ký phiên toà: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Trần Văn Hiền và ông Hồ Nguyễn Thiết B - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 48/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Trung H, sinh ngày 05/4/1997 tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị O; vợ là Đặng Trần Ngọc H1, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Trần Trung H đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 22/4/2024, tại Trại tạm giam Công an tỉnh A đến nay (có mặt).

* Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Trần Trung H: Bà Lê Thị C – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Lê Thị C; địa chỉ: Số A, ấp L, L, huyện C, An Giang (có mặt).

Người có liên quan và người làm chứng: Tất cả đều vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/4/2024, lực lượng Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế T2 làm nhiệm vụ tại khu vực cổng nhập cảnh số 01 (Barrie số 01) thuộc khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang thì Trần Trung H từ khu vực biên giới Campuchia đến khu vực nhập cảnh vào Việt Nam. Tại đây, H cầm theo bao tải màu vàng đến khu vực làm thủ tục nhập cảnh, qua kiểm tra lực lượng Biên phòng phát hiện bên trong bao tải màu vàng của H có 01 túi xách đệm, bên trong túi xách có 01 con gà và 01 khối hình vuông được quấn băng keo màu vàng đựng 01 túi nylon được ghi dòng chữ nước ngoài, bên trong túi nylon này có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và H thừa nhận là ma túy nên lực lượng Biên phòng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H cùng tang vật.

Ngày 26/4/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế T2 khởi tố vụ án hình sự và chuyển hồ sơ vụ án sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A xử lý theo thẩm quyền.

Qua điều tra xác định: Khoảng cuối năm 2023, khi đánh bạc tại một Casino ở Campuchia, H quen biết Võ Văn H2 (là người Việt Nam sinh sống tại Campuchia) và được H2 gợi ý kêu H vận chuyển ma túy từ Campuchia về Việt Nam, H2 sẽ trả tiền công 500.000 đồng/lần, thì H đồng ý. Từ tháng 01/2024 đến giữa tháng 4/2024, Hậu vận chuyển ma túy (không xác định số lượng và loại ma túy) cho H2 từ Campuchia về Việt Nam 04 lần, mỗi lần đem ma túy về Việt Nam thì H để tại khu vực vắng người trên địa bàn phường T rồi chụp lại vị trí gửi qua Zalo cho H2, để H2 liên lạc kêu người đến nhận, H được trả tiền công 04 lần tổng cộng 2.000.000 đồng.

Khoảng 19 giờ ngày 22/4/2024, theo yêu cầu của H2, H đến cột mốc biên giới số 275 (thuộc địa phận Việt Nam) gặp một người nam (người Campuchia) điều khiển xe mô tô đến giao cho H 01 bao tải màu vàng bên trong có ma túy và chở H đến khu vực Barrie số 01 rồi người này khiển xe mô tô quay về hướng Campuchia. Sau đó H làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam thì bị lực lượng Biên phòng kiểm tra phát hiện bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu.

Ngày 26/4/2024, Trần Trung H bị khởi tố, điều tra.

* Căn cứ Kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:

Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 1,005kg.

* Quá trình điều tra, bị can Trần Trung H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, phù hợp lời khai người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

* Vật chứng thu giữ: 01 hộp giấy được niêm phong (bên trong chứa ma túy); 01 phong bì được niêm phong (bên trong là điện thoại); 01 bao tải màu vàng; 01 túi xách đệm.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSAG-P1 ngày 07 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố:

2

Bị cáo Trần Trung H “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Trung H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng như nội dung vụ án nêu trên.

Người có liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang luận tội giữ nguyên tội danh cáo trạng truy tố; căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Trần Trung H tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo Trần Trung H nộp số thu lợi bất chính 2.000.000 đồng sung vào công quỹ Nhà nước.

Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy, dụng cụ và bao bì đã thu giữ.

Luật sư Lê Thị C bào chữa cho bị cáo Trần Trung H có quan điểm bào chữa thống nhất tội danh Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú khai nhận các lần phạm tội trước ngày bị bắt; được Cơ quan điều tra Công an tỉnh A xác nhận thái độ khai báo tích cực để sớm kết thúc quá trình điều tra; bị cáo có nhân thân tốt, có thời gian nhập ngũ phục vụ trong quân đội. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử có thể xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ tác dụng cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Trần Trung H nhất trí lời bào chữa của Luật sư, không tranh luận với Kiểm sát viên. Nói lời sau cùng, bị cáo H mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

Trong phần đối đáp, một lần nữa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

3

Tại phiên tòa người có liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Trung H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/4/2024 tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế T2, phát hiện quả tang Trần Trung H vận chuyển 01 bọc ma túy qua giám định là Methamphetamine có khối lượng 1,005kg. H khai nhiều lần vận chuyển ma túy do Võ Văn H2 gợi ý để hưởng lợi mỗi lần 500.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh A. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Trần Trung H đã có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy để thu lợi, khối lượng ma túy bị bắt quả tang H phải chịu trách nhiệm là 1,005 kilogam loại Methamphetamine. Bị cáo H thừa nhận hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nhưng do hám lợi, nên thực hiện bất chấp hậu quả. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì:

- Hành vi của Trần Trung H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ tù chung thân hoặc từ hình, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội phạm trên là hoàn toàn chính xác.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Xuất phát từ động cơ vụ lợi, bị cáo H nhiều lần thực hiện vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng hơn 1.000 gam loại Methamphetamine, bất chấp hậu quả gieo rắc cái chết trắng cho cộng đồng. Mặt khác, khi còn tại ngũ đóng quân tại T2, bị cáo biết rất rõ những cấm đoán của luật pháp đối với các tội phạm về ma túy. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Thời gian qua, trên địa bàn khu vực biên giới các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội, làm ảnh hưởng đến môi trường cuộc sống. Do đó, việc xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, là công dân có ích cho xã hội.

4

Bị cáo bị phát hiện quả tang, tuy khai nhận vận chuyển nhiều lần nhưng không đủ căn cứ xác định cụ thể từng lần phạm tội, nên không áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt tù không thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi quyết định hình phạt, có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra có văn bản xác nhận thái độ bị cáo H tích cực khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, không nghề nghiệp ổn định là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4] Tại phiên tòa, xác định số tiền 2.000.000 đồng có được từ hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Trung H. Đây là số thu lợi bất chính nên cần tuyên bố buộc bị cáo giao nộp sung công quỹ Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Đối với đối tượng Võ Văn H2 hiện không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được và người nam giao ma túy cho H do không rõ họ, tên, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được, đang tiếp tục điều tra để xử lý sau.

[7] Về vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu để tiêu hủy. Riêng điện thoại do bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc vận chuyển ma túy nên tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Trần Trung H tù chung thân, tiếp tục giam bị cáo Trần Trung H để đảm bảo thi hành bản án.

- Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Trần Trung H nộp số tiền 2.000.000 đồng sung vào công quỹ Nhà nước.

- Căn cứ Điều 46 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • - 01 (một) hộp giây được niêm phong, ghi vụ 552/KL-KHH ngay 25/4/2024, có in hình dấu tròn màu đỏ của Đ biên phòng cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Phan Hùng C1. Bên trong còn lại mẫu vật sau khi giám định chất ma túy.
  • - 01 (một) bao tải màu vàng, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) túi xách đệm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) phong bì được niêm phong, ghi vụ 666/KL-KTHS ngày 10/9/2024, có in hình dâu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Vũ L, Giáp Thanh T1. Bên trong còn lại mẫu vật sau khi giám định thông tin điện thoại.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Trung H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Kho bạc nhà nước tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người làm chứng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Thuận Tùng

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger