|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày: 21-11-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tám
Ông Trần Văn Tám.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Như Dzoãn – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN MINH P, sinh ngày 21/02/1990. Nơi sinh: Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
CCCD số: [...]. Ngày cấp: 23/5/2024. Nơi cấp: Cục C về TTXH – Bộ C1.
Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê;Trình độ học vấn: 6/12.
Con ông Trần Hoàng V và bà Nguyễn Thị L.
Tiền án: 00. Tiền sự: 00.
Bị cáo chưa có vợ con, bị tạm giữ ngày 03/8/2025, chuyển tạm giam ngày 09/8/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 2001. (xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh P là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 02/8/2025, bị cáo sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, có số IMEI 1: 357620049372471 để gọi cho người tên “Anh H” (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy với giá 1.000.000 đồng, hẹn giao ma túy ở chân cầu B thuộc Phường T, tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo thuê xe mô tô khách (xe ôm) chở đến địa điểm hẹn, thì gặp một người nam thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, không phải người tên “Anh H”) hỏi bị cáo “có phải P không”, bị cáo trả lời “phải” thì người thanh niên này đưa cho bị cáo một cái khẩu trang được quấn lại. Bị cáo mở ra thấy có 05 đoạn ống nhựa màu xanh sọc trắng, biết đây là ma túy nên bị cáo trả người nam thanh niên 1.000.000 đồng. Sau đó bị cáo đón xe ôm về nhà tại ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Tại nhà, bị cáo lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, cắt 02 đoạn ống nhựa chứa ma túy vừa mua, đốt lên để sử dụng. Sử dụng xong, bị cáo vứt bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không nhớ vứt ở đâu), và đem cất giấu 03 đoạn ống nhựa còn lại vào các lỗ của các viên gạch ống tại vách tường trong nhà. Đến khoảng 08 giờ 10 phút ngày 03/8/2025, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ 03 đoạn ống nhựa như nêu trên. Tại cơ quan chức năng, bị cáo khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại Kết luận giám định số 950/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,4776 gam loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M1 có khối lượng 0,1465 gam, mẫu kí hiệu M2 có khối lượng 0,1546 gam và mẫu kí hiệu M3 có khối lượng 0,1765 gam)”.
Về vật chứng thu giữ:
Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ các vật chứng sau:
- 03 (ba) đoạn ống nhựa màu xanh sọc trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, có chữ Masstel có số IMEI 1:357620049372471.
Ngày 22/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định chuyển vật chứng sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4-Đồng Tháp để quản lý, lưu giữ.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSKV4 ngày 22/10/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đồng Tháp, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 4-Đồng Tháp để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Do đó có cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng trong vụ án.Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
N có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị L thống nhất với ý kiến Kiểm sát viên, không ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [2]. Về sự vắng mặt của người được triệu tập tham gia phiên tòa: Anh Nguyễn Thanh S có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, không ai có ý kiến gì. Việc vắng mặt anh S không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
[3]. Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 03/8/2025, bị cáo Nguyễn Minh P bị bắt quả tang tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng ma túy là 0,4776g (không phẩy bốn bảy bảy sáu gam), loại Methamphetamine. Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định Đ c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025 như bản Cáo trạng số 01/CT-VKSKV4 ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đồng Tháp truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ý thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận, gây ra tình trạng khánh kiệt kinh tế của gia đình. Hơn nữa còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bản thân bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết chấp hành nghiêm pháp luật và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo an toàn trật tự xã hội.
- [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.
- [5]. Đối với Nguyễn Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo vào ngày 02/8/2025. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định được bị cáo không có hành vi rủ rê, xúi giục, lôi kéo S sử dụng trái phép chất ma túy. Do S và bị cáo có quen biết, nên khi thấy bị cáo sử dụng ma túy, S đã tự chủ động đến sử dụng ma túy. Do đó, không xem xét, xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với bị cáo là phù hợp. Riêng hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thanh S, Công an xã T, tỉnh Đồng Tháp đã lập hồ sơ quản lý và S đã thực hiện cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Đồng Tháp.
- [6]. Đối với đối tượng tên “Anh H” và người có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo P, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh về nhân thân, lai lịch của các đối tượng này tại Công an phường T, tỉnh Đồng Tháp nhưng không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể. Đề nghị tiếp tục xác minh, có căn cứ xử lý sau.
- [7]. Đối với bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột và sống cùng nhà với bị cáo, nhưng bà không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét, xử lý là phù hợp.
-
[8]. Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu số 950 ghi ngày 06 tháng 8 năm 2025. Đây là phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định, cần thiết tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, có chữ Masstel có số IMEI 1: 357620049372471. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Theo Biên bản giao nhận vật chứng, hiện trạng điện thoại không khởi động được, không còn giá tị sử dụng. Do đó, cần thiết tịch thu tiêu hủy.
- [9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- [10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà L được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người liên quan anh S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định.
- [11]. Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đồng Tháp tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 03/8/2025, chuyển tạm giam ngày 09/8/2025.
-
Về vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu số 950 ghi ngày 06 tháng 8 năm 2025.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động màu đen, có chữ Masstel có số IMEI 1: 357620049372471.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Phòng Thi hành dân sự khu vực 4-Đồng Tháp theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành dân sự khu vực 4-Đồng Tháp.
-
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo và bà Nguyễn Thị L được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Anh Nguyễn Thanh S được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Hải Âu |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐỒNG THÁP về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025. Xử phạt 03 (ba) năm tù.
