|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày 19 - 11 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Tuyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đăng Thiện
2. Ông Trịnh Trung Tuyến
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký, Toà án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đăng Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 23/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025 đối với các bị cáo:
- Lê Trí H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1993 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Y, tỉnh Thanh Hóa); Nơi cư trú: Thôn D, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Trí H1 và bà Lê Thị H2; Có vợ là Lê Thị M (đã ly hôn) và 01 con. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- Lăng Văn T, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1999 tại xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Y, tỉnh Lạng Sơn); Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã Y, tỉnh Lạng Sơn; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn V và bà Lăng Thị K; Có vợ là Nguyễn Thị T1 và 01 con. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- Trịnh Ngọc S, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1991 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Đ, tỉnh Thanh Hóa); Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn Y và bà Trịnh Thị H3; Có vợ là Trịnh Thị Kim D và 02 con. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- Mai Văn M1, sinh ngày 16/7/1990 tại phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa); Nơi ĐKHKTT: TDP T, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn D1 và bà Lê Thị T2; Chưa có vợ, con. Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05/12/2006 bị Toà án nhân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 04 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm”, tổng hợp hình phạt Mai Văn M1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 năm 06 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt từ ngày 19/9/2012 và đã nộp xong án phí .
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Anh Trịnh Ngọc N, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/4/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã Đ, huyện Y (nay là Công an xã Y), tỉnh Thanh Hóa tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Lê Trí H ở thôn D, xã Đ, huyện Y (nay là xã Y) tỉnh Thanh Hóa, phát hiện có 05 đối tượng có biểu hiện sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Lê Trí H, Trịnh Ngọc S, Lăng Văn T, Mai Văn M1 và Trịnh Ngọc N, sinh năm 1987, ở xã Đ, huyện Y (nay là xã Đ), tỉnh Thanh Hóa. Qua kiểm tra đã phát hiện dưới gầm bàn phòng khách các vật dụng gồm: 01 chai nhựa màu vàng, bên trong đựng dung dịch lỏng màu trắng, nắp chai gắn 01 cóng thủy tinh; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa màu da cam. Tiến hành test nhanh ma túy đối với Lê Trí H, Lăng Văn T, Mai Văn M1, Trịnh Ngọc S và Trịnh Ngọc N, kết quả đều dương tính với ma túy loại: Methamphetamine. Tại Cơ quan điều tra Lê Trí H, Mai Văn M1, Lăng Văn T và Trịnh Ngọc S đã đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời khai các vật dụng thu giữ tại gầm bàn nhà H đã được các đối tượng dùng làm công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra các đối tượng còn giao nộp 04 (bốn) điện thoại di động dùng để liên lạc trao đổi tổ chức sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra đã lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Quá trình điều tra chứng minh: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, nên khoảng 20 giờ ngày 01/4/2025, H dùng điện thoại gọi qua tài khoản Z rủ S sử dụng ma túy thì S đồng ý và thống nhất góp 200.000đ mua ma túy. Sau khi nói chuyện với H, S sử dụng điện thoại nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ N đi cùng và nhắn tin rủ N là đi uống nước chè thì N đồng ý và lấy xe ô tô chở S, hai người cùng đi đến nhà H. Trong khoảng thời gian trên thì Lăng Văn T gọi điện cho Lê Trí H hỏi có mua được ma túy không và rủ H cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì H đồng ý (H không nói cho T biết về việc S cũng góp tiền mua ma tuý) và T thống nhất góp 400.000đ mua ma túy. Do trong tài khoản của T chỉ còn 380.000₫ nên T đã chuyển hết số tiền trên đến tài khoản ngân hàng S1 số tài khoản 030074948312 của H. Sau khi chuyển tiền cho H thì T gọi điện qua ứng dụng Zalo rủ Mai Văn M1 đi sử dụng ma túy thì M1 đồng ý. Sau khi thống nhất góp tiền đi mua ma túy riêng với Trịnh Ngọc S và Lăng Văn T thì Lê Trí H đi bộ một mình đến đoạn đường mới thuộc thôn D, xã Đ gặp một nam thanh niên tên “Cuội”, khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang không rõ mặt và địa chỉ và đưa 600.000₫ (Là Tiền của của H) cho người này hỏi mua ma túy thì được người tên “Cuội” đồng ý. “Cuội” đi đâu đó một lúc rồi quay lại ném 01 bao thuốc Thăng Long xuống đất bên trong có 01 túi nilon trắng có chứa chất ma túy dạng tinh thể trắng, 01 cóng, 01 nắp chai nhựa đục 02 lỗ tròn, 01 ống hút, 01 đầu kim tiêm, rồi H cầm các đồ vật trên đi về nhà.
H về nhà được một lúc thì N điều khiển xe ô tô BKS: 36A.651.45 của mình chở S đến, H dẫn S và N vào phòng ngủ rồi lắp bộ dụng cụ và lấy ra một nửa số ma túy vừa mua được cho vào cóng mời S và N sử dụng ma tuý đồng thời H dùng bật lửa đốt ma túy tan chảy để S sử dụng bằng hình thúc dùng miệng hút khói vào cơ thể, sau đó đốt cho N và bản thân H sử dụng, mỗi người sử dụng 02 (hai) lần thì hết ma túy trong cóng. Sử dụng ma túy xong, S chuyển khoản 200.000đ vào ngân hàng S1 số tài khoản 0300074948312 cho H rồi S và N nằm tại phòng ngủ nhà H lấy điện thoại ra chơi điện tử. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, M1 sử dụng xe máy BKS: 36C1-243.38 cùng T đến nhà H thì H dẫn T và M1 đến phòng khách lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy vừa được sử dụng cùng S, N tại phòng ngủ trước đó đặt xuống bàn phòng khách rồi cho một nửa số ma túy còn lại đã mua của “Cuội” vào cóng rồi H, M1 và T thay nhau đốt ma túy tan chảy cho nhau sử dụng bằng hình thức hút khói vào cơ thể, mỗi người hút ba lượt thì hết ma túy. Sử dụng xong M1 đặt bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống dưới gầm bàn uống nước rồi cả ba ngồi nói chuyện tại phòng khách. Đến khoảng 23h30 cùng ngày thì tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vụ việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với các chất bám dính trong các vật dụng thu giữ trong gầm bàn nhà Lê Trí H và giám định nước tiểu đối với Lê Trí H, Lăng Văn T, Mai Văn M1, Trịnh Ngọc S và Trịnh Ngọc N.
Tại Kết luận giám định số 1293/KL-KTHS ngày 09/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong chất lỏng màu trắng trong chai nhựa màu vàng, bề mặt ghi chữ “Number 1” và chất bám dính bên trong công thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định”.
Tại Kết luận giám định 1296/KL-KTHS ngày 09/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lê Trí H, Mai Văn M1, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Trịnh Ngọc N.
Đối với Trịnh Ngọc N, do không biết mục đích S rủ đi sử dụng ma tuý, không góp tiền và giúp sức trong việc sử dụng ma tuý nên N là người thụ hưởng, sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của N đã bị Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 311/QĐ-XPHC ngày 02/10/2025.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV8 ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thanh Hoá đã truy tố Lê Trí H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thanh Hoá thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) tuyên bố các bị cáo Lê Trí H, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Lê Trí H. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1. Áp dụng Điều 329, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS đối với các bị cáo.
- Đề nghị HĐXX xử phạt: Lê Trí H từ 07 năm 10 tháng đến 08 năm tù; Lăng Văn T từ 07 năm 06 tháng đén 07 năm 09 tháng tù; Trịnh Ngọc S từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù và Mai Văn M1 từ 07 năm 01 (Một) tháng đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2025. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Đề nghị truy thu số tiền 580.000đ (Năm trăm tám mươi nghìn đồng) đối với Lê Trí H.
- Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung quỹ Nhà nước 04 điện thoại và tiêu huỷ các vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng. Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Lê Trí H, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất, khách quan: Vào tối ngày 01/4/2025, tại phòng ngủ nhà Lê Trí H ở thôn D, xã Y, tỉnh Thanh Hóa, Lê Trí H và Trịnh Ngọc S cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Trịnh Ngọc N sử dụng. Sau khi H và S sử dụng ma túy xong thì H lại mang dụng cụ và ma túy ra phòng khách cùng với Lăng Văn T và Mai Văn M1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định bị cáo Lê Trí H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 ; bị cáo Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 04/CT-VKSTX ngày 23/10/2025 của VKSND khu vực 8 - Thanh Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Trong vụ án này khi H rủ S góp tiền tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì S đồng ý, T chủ động gọi cho H hỏi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, góp tiền và rủ M1 đi cùng nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người mà cùng thống nhất ý chí và cùng hành động.
Về vai trò: Bị cáo Lê Trí H, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S bàn bạc, thống nhất riêng với nhau và góp tiền đi mua ma tuý. Trong đó, H là người rủ Trịnh Ngọc S sử dụng trái phép ma túy, là người đi mua ma tuý, cung cấp địa điểm và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 02 lần. Lần 1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho S và N, lần 2 tổ chức cho T và M1 nên giữ vai trò thứ nhất; Lăng Văn T gọi điện cho H về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, góp 380.000đ, rủ M1 cùng sử dụng trái phép chất ma tuý nên giữ vai trò thứ hai, Trịnh Ngọc S góp 200.000đ, rủ N cùng sử dụng trái phép chất ma tuý nên giữ vai trò thứ ba; Mai Văn M1 cùng bị cáo H và bị cáo T thay nhau đốt ma túy tan chảy cho nhau sử dụng. Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho 02 người trở lên nên phải chịu tình tiết định khung theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, riêng bị cáo Lê Trí H tổ chức sử dụng tái phép chất ma tuý 02 lần nên chịu thêm tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội.
Về nhân thân: Các bị cáo Lê Trí H, Lăng Văn T và Trịnh Ngọc S đều là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Bị cáo Mai Văn M1 năm 2006 bị Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 04 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm”, nhưng khi phạm tội Mai Văn M1 chưa đủ 16 tuổi.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 BLHS đối với Lê Trí H. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS đối với Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa nhận thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng. Vật chứng của vụ án gồm:
- Đối với 01 chai nhựa màu vàng Number 1, 01 cóng thủy tinh, ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lửa màu cam là vật không có giá trị sử dụng nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ.
- Đối với 04 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động, hiệu Reami thu giữ của Lê Trí H; 01 (một) điện thoại di động, hiệu IP XS Max thu giữ của Lăng Văn T; 01 (một) điện thoại di động IP 12 Promax thu giữ của Trịnh Ngọc S và 01 (một) điện thoại di động hãng OPPO RENO 12PRO thu giữ của Mai Văn M1 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 580.000đ Lê Trí H4 nhận sau khi đã dụng 600.000₫ của mình đi mua ma tuý là tiền dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS truy thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo có tội và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 255 của BLHS:
Tuyên bố các bị cáo Lê Trí H, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS; Điều 329, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS đối với Lê Trí H.
Xử phạt Lê Trí H 07 (Bảy) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2025.
Truy thu số tiền 580.000đ (Năm trăm tám mươi nghìn đồng) đối với Lê Trí H sung nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS; Điều 329, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS đối với Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1.
Xử phạt Lăng Văn T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù;
Xử phạt Trịnh Ngọc S 07 (Bảy) năm 04 (Bốn) tháng tù;
Xử phạt Mai Văn M1 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2025.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu và tiêu hủy 01 chai nhựa màu vàng Number 1, 01 cóng thủy tinh, ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lửa màu cam.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 04 chiếc điện thoại thu giữ của Lê Trí H, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1.
Các vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thanh Hoá số 07 lập ngày 23/10/2025.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Lê Trí H, Lăng Văn T, Trịnh Ngọc S và Mai Văn M1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm. Có mặt các bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/11/2025).
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- - VKSND khu vực 8 – Thanh Hoá;
- - THADS tỉnh Thanh Hoá;
- - Phòng THADS khu vực 8 – Thanh Hoá;
- - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
- - Phòng GĐ,Ttr, Kiểm tra và Thi hành án TAND tỉnh Thanh Hóa;
- - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
- - Các bị cáo;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Xuân Tuyên |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Trịnh Trung Tuyến Lê Đăng Thiện |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Xuân Tuyên |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trí Hiếu và đồng phạm - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
