|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày 18 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Nguyên Phó Bí thư thành đoàn thành phố Tân An;
Ông Nguyễn Văn Bơ – Hiệu trưởng Trường tiểu học Võ Thị Sáu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị các bị cáo:
-
Trần Đăng K, sinh ngày 16/8/2008 tại Long An;
Nơi cư trú: Số B, ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Võ Thị N; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Trần Huỳnh Quốc K1, sinh ngày 13/10/2008 tại Long An;
Nơi cư trú: Số D, ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Huỳnh Thị L.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2
- Bị hại: Hồ Phạm Minh Mẫn, sinh ngày 26/02/2009; Địa chỉ: Số C, ấp X, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
+ Đại diện hợp pháp của bị hại Hồ Phạm Minh M: Ông Hồ Hữu C, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Võ Nguyễn Anh N1, sinh ngày 10/11/2008; Địa chỉ: H, đường T, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
+ Đại diện hợp pháp của Võ Nguyễn Anh N1: Ông Võ Trần Vũ P, sinh năm 1978; Địa chỉ: H, đường T, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
+ Đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đăng K: Bà Võ Thị N, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số B, ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
+ Đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Huỳnh Quốc K1: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số D, ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đăng K, Trần Huỳnh Quốc K1: Bà Đặng Kim H1 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ, ngày 09/11/2024, Trần Huỳnh Quốc K1 điều khiển xe Luvias biển số 62K1 – 206.43 chở Võ Nguyễn Anh N1, sinh ngày 10/11/2008; Trần Đăng K điều khiển xe Cub biển số 62FB – 3509. Khi đến trước nhà số A, đường H, Phường A, thành phố T, N phát hiện nhóm của Hồ Phạm Minh M, sinh ngày 26/02/2009; Lê Thanh B và Cao Thanh L1 đang chọc ghẹo một cô gái (không rõ nhân thân, lai lịch). K kêu N1 và K1 quay lại coi nhóm M làm gì. Sau khi quay lại, K bước xuống xe nói chuyện với B: “Tụi bây làm cái gì vậy?” thì lúc này B kêu K giúp ghẹo cô gái để B chở cô gái đó về. Nhóm K, K1 và N1 không đồng ý nên bỏ ra về. Sau khi chạy được một đoạn, K thấy nhóm của B, L1 và M vẫn tiếp tục trêu ghẹo cô gái. Lúc này, K kêu K1 và N1 vòng lại. K xuống xe nói chuyện với M và hai bên xảy ra cự cãi. K dùng tay phải đánh vào mặt của M 01 cái, M dùng nón bảo hiểm đánh trả nhưng không trúng. N1 dùng nón bảo hiểm xông vào đánh M nhiều cái vào vùng trán phía trước bên trái của M. K1 xông vào dùng nón bảo hiểm đánh hơn 10 cái vào vùng lưng và trán phía trước bên trái của M. K cũng xông vào dùng tay đánh vào đầu và lưng, dùng chân đá vào bụng của M. B thấy vậy lại can ngăn, K1 và K tiếp tục cùng xông vào dùng tay đánh M. N1 dùng nón bảo hiểm tiếp tục đánh M và ném nón bảo hiểm vào người M nhưng không trúng. N1 tiếp tục giật nón bảo hiểm của K1 đánh trúng vào vùng trán bên trái của M làm rớt nón bảo hiểm, K1 dùng chân đá vào bụng của M. Mẫn bỏ chạy, N1 tiếp tục nhặt nón bảo hiểm ném M nhưng không trúng. Sau đó, lực lượng công an mời các đối tượng về Công an phường 1 làm việc tại cơ quan Công an Khoa, K1 và N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
3
Tang vật vụ án gồm: 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu xám rêu; 01 xe môtô biển số: 62FB - 3509; 01 xe môtô biển số: 62K1 – 206.43.
Bản kết luận giám định bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 401/KLTTCT-TTPY ngày 25/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Phạm Minh M tại thời điểm giám định là 22%.
Cáo trạng số 06/CT-VKSTA ngày 25/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Trần Đăng K và Trần Huỳnh Quốc K1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Đăng K và Trần Huỳnh Quốc K1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; các bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiền hành tố tụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Đăng K và Trần Huỳnh Quốc K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ Luật hình sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Đăng K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Huỳnh Quốc K1 từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu xám rêu.
- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của các bị cáo đã bồi thường cho bị hại Hồ Phạm Minh M số tiền 70.000.000đ, bị hại không yêu cầu gì thêm.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đăng K là bà Nguyễn Thị N2 trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Trần Đăng K. Bà thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo K, khi sự việc xảy ra gia đình bà có đến xin lỗi và bồi thường cho gia đình bị hại. Hiện tại bị cáo K đang là học sinh, bà đề nghị Hội cho bị cáo K được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập, sửa chữa lỗi lầm để trở thành người có ích cho xã hội, bà và gia đình sẽ giám sát, dạy dỗ không để bị cáo K tái phạm.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Huỳnh Quốc K1 là bà Huỳnh Thị L trình bày: Bà là mẹ của bị cáo kiệt. Bà thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối
4
với bị cáo K. Do điều kiện công việc nên bà phải đi làm ăn xa, không có nhiều thời gian quan tâm đến bị cáo K1. Khi sự việc xảy ra gia đình bà có đến xin lỗi và bồi thường cho gia đình bị hại. Hiện tại bị cáo K1 đang là học sinh, bà đề nghị Hội cho bị cáo K1 được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập, sửa chữa lỗi lầm để trở thành người có ích cho xã hội, bà và gia đình sẽ giám sát, dạy dỗ bị cáo K1.
- Người bào chữa cho bị cáo K, K1 trình bày: Bà thống nhất với tội danh mà vị đại diện Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo K, K1. Tuy nhiên khi phạm tội hai bị cáo là người dưới 18 tuổi, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo thành thật khai báo về hành vi phạm tội. Hai bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hiện tại hai bị cáo là học sinh và để tạo điều kiện cho hai bị cáo tiếp tục học tập, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho hai bị cáo được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, hai bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình bị hại. Hai bị cáo cáo đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để hai bị cáo được tiếp tục đi học và sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, phù hợp với biên bản sự việc, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: xuất phát từ việc bị hại M có hành vi trêu ghẹo cô gái tên Đ1 vào lúc 00 giờ sáng ngày 09/11/2024 nên bị cáo K, bị cáo K1 và Võ Nguyễn Anh N1 có đến bênh vực và hai bên xảy ra cự cãi. Bị cáo K dùng chân tay đánh bị hại mẫn, bị cáo K1 và Võ Nguyễn Anh N1 đã dùng nón bảo hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật là 22%. Do đó đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo K, K1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý
5
gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo dùng nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 22% và tại thời điểm các bị cáo gây thương tích cho bị hại thì bị hại dưới 16 tuổi, như vậy hành vi của các bị cáo vi phạm các quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134, do đó các bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố các bị cáo K, K1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật. Đối với truy tố của Viện kiểm sát cho rằng hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ được quy định tại i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thấy rằng: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị can K mới 16 tuổi 03 tháng và bị can K1 mới 16 tuổi 01 tháng nên khả năng nhận thức và khả năng kiểm soát hành vi của các bị can còn hạn chế, sự việc xảy ra cũng do lỗi một phần của bị hại, do đó Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo không có tính chất côn đồ.
[4] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo có tính chất đồng phạm nhưng các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xác định rõ vai trò tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành thật khai báo, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo K có ông nội tham gia dân công hỏa tuyến, bà ngoại được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, cha mẹ bị cáo K trong quá trình công tác nhận được nhiều giấy khen, bằng khen và kỷ niệm chương. Bị cáo K1 có bà ngoại được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
6
[7] Về hình phạt đối với các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Trần Đăng K tham gia với vai trò là người khởi xướng nên chịu mức án cao hơn bị cáo K1. Bị cáo Trần Huỳnh Quốc K1 là người giúp sức tích cực, trực tiếp dùng hung khí gây thương tích cho bị hại nên chịu mức án tương xướng với hành vi phạm tội, tuy nhiên các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cần áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt.
[8] Tại phiên đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo K mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cho hưởng án treo và bị cáo K1 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo; người bào chữa cho hai bị cáo cũng đề nghị cho hai bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo K1 và bị cáo K có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nhiều tình tiết tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; các bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng được Cơ quan công an tại địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận và các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, khi phạm tội các bị cáo dưới 18 tuổi, hai bị cáo đang là học sinh có xác nhận của nhà trường nơi các bị cáo học tập. Vì vậy để tạo điều kiện cho hai bị cáo tiếp tục học tập, do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, giám sát giáo dục cũng đủ răn đe giáo dục chung, cũng như tạo điều kiện để giúp đỡ các bị cáo sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội, là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2022/VBHN-HĐTP ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao. Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho hai bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu xám rêu, xét thấy đây là các công cụ để thực hiện hành vi tội phạm nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 70.000.000đ. Bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với Võ Nguyễn Anh N1: Tại thời điểm gây thương tích cho Hồ Phạm Minh M, N1 dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo đối với Võ Nguyễn Anh N1 theo Quyết định số 19/QĐ-XPHC ngày 22/01/2025 là phù hợp.
[12] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
1/ Tuyên bố các bị cáo Trần Đăng K và Trần Huỳnh Quốc K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Trần Huỳnh Quốc K1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Đăng K và Trần Huỳnh Quốc K1 cho Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Long An nơi hai bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp hai bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) nón bảo hiểm màu xám rêu.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An đang quản lý biên bản gia nhận vật chứng, tài sản ngày 11/3/2025 giữa Cơ quan Điều tra Công an tỉnh L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An).
3/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc các bị cáo Trần Đăng K và Trần Huỳnh Quốc K1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; đại diện hợp pháp của các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi Nhận : - TAND tỉnh Long An; |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
8
|
- VKSND tỉnh Long An; - VKSND Tp Tân An; - CA tỉnh Long An; - Chi cục THA Tp Tân An; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu hồ sơ; VP./. |
Trần Tuấn Phan |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đăng K, Huỳnh Quốc K1 phạm tội cố ý gây thương tích
