Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ánh và ông Phạm Thanh Trà

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí B – sinh năm 1993, tại Bến Tre

Nơi cư trú: Tổ A, Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1963 và bà Huỳnh Thị Kim X - sinh năm 1965; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai (Có mặt)

Nhân thân: Ngày 11/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 03/QĐ-TA (đã chấp hành xong ngày 03/02/2021)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim H – sinh năm 2006 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Bé P – sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Chí B là đối tượng từng sử dụng chất ma túy, sau khi bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 11/02/2020, khi trở về địa phương Nguyễn Chí B không có nghề nghiệp ổn định.

Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 27/12/2024, Nguyễn Chí B đi bộ từ nhà tại Tổ A, Khu B, thị trấn T, huyện T lang thang xung quanh khu vực thị trấn T, khi đi đến Tổ A, Khu E, thị trấn T, huyện T, B nhìn thấy chiếc xe đạp điện màu đen nhãn hiệu “Pega” của chị Nguyễn Thị Kim H đang dựng trước sân nhà và không có người trông coi thì nảy sinh ý định lấy trộm xe mang về làm phương tiện đi lại. Sau khi quan sát xung quanh, thấy không có ai đi lại khu vực gần đó nên Nguyễn Chí B đã lén lút ngồi lên xe đạp điện, dùng hai chân đạp xe, chạy ra hướng đường T rồi chạy về nhà của B để cất giấu xe đạp điện tại khu vực nhà bếp và nằm nghỉ ngơi.

Buổi chiều cùng ngày, Nguyễn Chí B nhận thấy trên đường đi từ khi trộm xe và đưa xe về đến nhà mình có rất nhiều Camera an ninh. B lo sợ bị Công an phát hiện hành vi phạm tội của mình nên đã mang chiếc xe đạp điện vừa trộm cắp được đến Công an thị trấn T đầu thú và giao nộp xe cho Công an thị trấn.

Vật chứng thu giữ: 01 xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu “Pega” bên mặt ngoài bình điện có ghi dòng chữ “ CAP-A” màu trắng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2024 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “01 xe đạp điện màu đen nhãn hiệu Pega loại CAP-A đã qua sử dụng, kết luận giá trị còn lại của tài sản trên: 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng)”.

Theo Cáo trạng số 56/CT-VKSTP-ĐN ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chí B mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 27/12/2024 Nguyễn Chí B đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 xe đạp điện màu đen nhãn hiệu Pega loại CAP-A đã qua sử dụng trị giá 9.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kim H và mang về nhà cất giấu để sử dụng. Sau đó do sợ bị Công an phát hiện nên Nguyễn Chí B đã mang chiếc xe đạp điện trên đến Công an thị trấn T đầu thú và giao nộp tài sản đã trộm cắp.

Hành vi của Nguyễn Chí B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Ngoài ra còn xem xét bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú và bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, vì để phục vụ nhu cầu cá thân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả 01 xe đạp điện màu đen nhãn hiệu Pega loại CAP-A đã qua sử dụng cho chủ sở hữu, người quản lý sử dụng hợp pháp bà Nguyễn Thị Bé P là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về phần hình phạt có phần nhẹ so với hành vi của bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí B 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2024.
  2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí B phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Xuân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN CHÍ BÌNH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger