|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HS-ST
Ngày: 16 – 6 – 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Ngọc Minh
- Bà Lê Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Đồng Mây Hồng Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2025/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 02/6/2025 đối với các bị cáo:
Vũ Văn T (tên thường gọi khác: không), sinh năm 1987 tại Quảng Ninh; Nơi cư trú: Khu T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C và bà Đỗ Thị L; có vợ là Lưu Thị B và con là Vũ Quốc L1 (sinh năm 2009); Vũ Hải Y (sinh năm 2016) và Vũ Quốc V (sinh năm 2022); tiền án: không có; tiền sự: không có. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 05/11/2024, chuyển tạm giam ngày 14/11/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh N. (có mặt tại phiên tòa)
Phạm Văn K (tên thường gọi khác: không), sinh năm 1983 tại Quảng Ninh; Nơi cư trú: Khu Y, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L2 (chết) và bà Đỗ Thị T1; có vợ là Lương Phương T2 và con là Phạm Đức H (sinh năm 2009) và Phạm Thùy L3 (sinh năm 2015); tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 13/3/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/11/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh N. (có mặt tại phiên tòa)
Vũ Văn N (tên thường gọi khác: không), sinh năm 1988 tại Quảng Ninh; Nơi cư trú: Khu phố T, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Nguyễn Thị H1 và con là Vũ Thị Phương V1 (sinh năm 2013) và Vũ Thị Phương T5 (sinh năm 2016); tiền án: không có; tiền sự: không có. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 05/11/2024, chuyển tạm giam ngày 14/11/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh N. (có mặt tại phiên tòa)
Nguyễn Văn T6 (tên thường gọi khác: không), sinh năm 1987 tại Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn K, xã V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị H2; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 05/11/2024, chuyển tạm giam ngày 14/11/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh N. (có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn K: Bà Trần Thị Thanh T7 – Luật sư, Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lưu Thị B, sinh năm 1985
Trú tại: Khu T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. (có mặt)
Bà Lương Phương T2, sinh năm 1989
Trú tại: Khu Y, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. (có mặt)
Ngân hàng TMCP T11 (T12)
Địa chỉ: E L, phường T, Quận H, TP ..
Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P – Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP T11.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Minh K1 và ông Nguyễn Thành N1 (văn bản ủy quyền số 191/2025/GUQ-TPB.CM.KHCN, ngày 25/02/2025. Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu tháng 11/2024, Vũ Văn T ở phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh làm nghề lái xe được người đàn ông tên M (chưa rõ lai lịch) sử dụng ứng dụng W - tài khoản "toi la toi", (ID: wxid_ydzh4wk2vika22) liên hệ với T trao đổi về việc M cần thuê người đón để chở người Trung Quốc do M tổ chức nhập cảnh trái phép từ tỉnh Quảng Ninh vào khu vực tỉnh Đồng Nai hoặc Tp.. Khoảng 10 giờ ngày 02/11/2024, T gọi cho Vũ Văn N, sinh năm 1988 trú tại thôn T, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nói khả năng tối nay có công việc chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, tiền công là 04 triệu và hỏi N có đi làm không thì N nói nếu có thì gọi lại sớm để sắp xếp công việc.
Vào khoảng 13h30' ngày 02/11/2024, M gọi cho T qua ứng dụng Wechat để thuê T đón, chở 06 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc sang Việt Nam; M thuê T chuẩn bị 02 ô tô để đón người ở khu vực thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, chở đến địa phận tỉnh Đồng Nai hoặc thành phố Hồ Chí Minh và giao những người Trung Quốc này cho người khác (sẽ liên lạc với T sau) để đưa đi làm việc, giá thoả thuận là 24.000.000₫ (hai mươi bốn triệu đồng)/01 xe, mỗi xe chở 03 người Trung Quốc. T đồng ý và liên hệ với Phạm Văn K, sinh năm 1983 trú tại khu Y, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, T nói với K có người thuê chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh về Đồng Nai hoặc thành phố Hồ Chí Minh, K hỏi giá bao nhiêu, T nói là 24 triệu đồng và K đồng ý. Sau khi liên hệ được xe, T báo lại cho M thì được M báo khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày xuất phát đến khu vực thị trấn Đ để đón người, đồng thời T gửi số điện thoại của T và K cho M để người của M liên hệ đón nhận người Trung Quốc ở địa phận Đồng Nai hoặc Tp ..
Khoảng 14h30', N gọi lại cho T hỏi tối nay có đi không, T nói chắc là có, cứ sắp xếp công việc, nghỉ ngơi khi nào đón được người Trung Quốc sẽ qua nhà N rồi cùng đi.
Đến khoảng 16h00' cùng ngày (02/11/2024), T gọi K qua nhà T để bàn chuyện chở người Trung Quốc. Lúc này T nói chở người Trung Quốc không có giấy tờ, nhập cảnh trái phép, K hỏi T “đi trên đường có sợ bị công an bắt không”, T nói “đã đi đâu mà biết, bị bắt hay không thì biết làm sao được, chưa đi mà anh cứ nói độc mồm, độc miệng”. Sau đó, T và K bàn bạc thống nhất sau khi đón được người Trung Quốc sẽ đưa về nhà của K để tắm; T sẽ gửi thêm cho K khoảng 150.000 đồng.
Đến khoảng 16h30' cùng ngày (02/11/2024), K sử dụng xe ô tô hiệu Xpander, màu trắng biển số 14A-63532 đến nhà chở T cùng đi đến Gara xe An Tâm gần tượng đài thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh để thay dầu xe rồi chở T đến chợ C1 để T mua quần áo, dép và một số đồ dùng cá nhân khác cho người Trung Quốc.
Sau đó, K liên hệ với Nguyễn Văn T6, trú tại thôn K, xã V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, K rủ T6 chở người Trung Quốc từ thị trấn Đ, tỉnh Quảng Ninh đi thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nói cho T6 biết những người Trung Quốc này không có giấy tờ nhập cảnh. Tuyền hỏi được bao nhiêu tiền, K nói 04 triệu đồng, T6 đồng ý và K hẹn Tuyền đến khoảng 20h00 sẽ xuất phát.
Đến khoảng 20h00', cùng ngày (02/11/2024), T gọi cho K thông báo xuất phát đi. T sử dụng xe ô tô Fortuner, biển kiểm soát 30L-11692, còn K và T6 sử dụng xe ô tô của K cùng đi đến khu vực thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến nơi khoảng 12 giờ đêm, 02 xe ô tô đậu ở khu vực cánh đồng vắng người qua lại để đợi. Đến khoảng 01h30' ngày 03/11/2024 có người lạ gọi nói T đến khu có một nhà Xưởng, bên cạnh có nhà bỏ hoang gần Quốc lộ A, cách chỗ đứng chờ khoảng 02km. Khi đến nơi có một người lạ là người của M dẫn 03 người Trung Quốc lên xe K nên xe K đi trước. T chờ khoảng 30 phút sau thì đón được 03 người Trung Quốc lên xe. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T và K gặp nhau tại Ngã sáu thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh như đã hẹn, T đưa 03 người Trung Quốc trên xe của T sang xe K, rồi xe K chở 06 người Trung Quốc về nhà K tắm rửa, còn T về nhà và gọi cho N chuẩn bị để đi. Đến khoảng 05h00 ngày 03/11/2024, K chở 06 người Trung Quốc từ nhà ra đầu ngõ nhà K rồi đưa 03 người Trung Quốc lên xe T đứng chờ trước đó. Sau đó, xe của K đi trước, xe của T đi đến nhà N để đón N. Quá trình di chuyển trên đường, có lúc xe K chạy trước, có lúc xe T chạy trước vì hai xe dừng ăn, nghỉ dọc đường khác nhau. T và K thường xuyên gọi cho nhau để trao đổi về đường đi, T căn dặn K trên đường đi phải cho người Trung Quốc ăn uống đầy đủ, cho ăn phải chụp hình, quay phim gửi qua zalo cho T, khi gặp chốt công an T báo cho K đi sau chú ý.
Đến khoảng 09h00' ngày 04/11/2024, khi xe T do N điều khiển đến trạm thu phí Cao tốc C2 - V thuộc địa phận xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì trạm thu phí chặn không cho đi, T nghĩ đã bị phát hiện nên gọi cho K báo xe mình bị chặn và bảo K không lên cao tốc nữa, nhưng lúc này xe K đã lên cao tốc nên K tiếp tục cho xe chạy đến làn dừng xe khẩn cấp trên cao tốc, K dừng xe lại để K và 03 người Trung Quốc xuống đi vào đường dân sinh, T6 lái xe chạy thẳng tìm đến nút giao quay đầu xe lại đón K và 03 người Trung Quốc để đi đường khác. Sau đó, K và 03 người Trung Quốc bị Công an xã P, huyện N phát hiện đưa về trụ sở làm việc. Xe của T gồm T, N và 03 người Trung Quốc và xe của T6 sau đó cũng bị Công an xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận phát hiện tạm giữ và bàn giao cho Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh N giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Công an, xác minh lai lịch 06 người quốc tịch Trung Quốc gồm:
HUANG WEN. sinh ngày 14/3/1993; Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Thành phố Laohekou, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc
CHEN JIN BIAO. sinh ngày 02/02/1979. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Huyện A, thành phố T, tỉnh Phúc Kiến.
LIU ZAI XI. sinh ngày 13/5/1984. Nơi thường trú: Huyện H, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.
XIE WEI XIANG. sinh ngày 06/02/1988; Giới tính: Nam. Nơi thường trú: T, P, Trung Quốc.
ZHANG HE FA. sinh ngày 11/7/2000; Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Thị trấn T, huyện A, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.
ZHANG ZHAO ZE. sinh ngày 09/12/1999; Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Thị trấn T, huyện A, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.
Theo lời khai của 06 người Trung Quốc trên xác định: Ngày 02/11/2024 những người Trung Quốc này được một số đối tượng (chưa rõ thông tin, lai lịch) tổ chức cho nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam (bằng đường sông) tại địa phận tỉnh Quảng Ninh, sau đó được giao cho các bị can T, N, K và T6 đón, chở đi sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
Cáo trạng số 03/CT-VKSNT-P1 ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn K, Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6 về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Bị cáo T và K theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự, Bị cáo N và T6 theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo T, K, N và T6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn K, Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6 về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và tuyên phạt.
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn T với mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn K với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn N với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T6 với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Đề nghị HĐXX trả tự do cho các bị cáo Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6.
+ Hình phạt bổ sung: Không.
- Xử lý vật chứng:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu vàng, số IMEI: 353896102224668, bên trong có gắn sim số điện thoại 0382.164.xxx của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro, màu xanh rêu, đã qua sử dụng, số IMEI: 353881100369061, bên trong có gắn sim số điện thoại 0981.959.xxx của Vũ Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 357026897654673, số IMEI 2: 357412787654678 của Nguyễn Văn T6 và 01 điện thoại di động hiệu Benco, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862859060497126, số IMEI 2: 862859060497134 của Phạm Văn K, là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô Toyota Fortuner màu nâu biển số 30L-116.92, là phương tiện mà Vũ Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và giao trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Lưu Thị Bẩy.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô Mitsubishi Xpander, màu trắng, biển kiểm soát 14A-635.32, là phương tiện mà Phạm Văn K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và giao trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Lương Phương T2.
+ Đối với yêu cầu nhận lại chiếc xe ô tô Mitsubishi Xpander, màu trắng, biển kiểm soát 14A-635.32 của Ngân hàng TMCP T11: Quá trình điều tra, xác định Phạm Văn K và vợ là chị Lương Phương T2 sử dụng chiếc xe trên làm tài sản thế chấp vay tiền tại Ngân hàng TMCP T11 (T12) – Trung tâm B2 bán lẻ Quảng Ninh từ tháng 01/2022. Đến ngày 25/02/2025, vợ chồng K còn nợ Ngân hàng số tiền 74.098.826 đồng.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì: “Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm...” và theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP nêu trên thì “Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó”. Như vậy trong vụ án này, bị cáo K sử dụng tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP T11 vào việc phạm tội nên việc xử lý tài sản trên thực hiện theo quy định Điều 47 BLHS năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tức là bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên xác định đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Phạm Văn K và chị Lương Phương T2 nên sẽ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe và hoàn trả lại cho chị T2 ½ giá trị còn lại. Đối với quyền lợi của ngân hàng, đề nghị HĐXX hướng dẫn để ngân hàng khởi kiện một vụ án dân sự khác đối với khoản nợ còn lại của vợ chồng K.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn K: Thống nhất với cáo trạng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, trong vụ án này hành vi của bị cáo K chỉ đóng vai trò giúp sức đón, chở 03 người Trung Quốc khi những người Trung Quốc này đã nhập cảnh trái phép qua cửa khẩu vào Việt Nam để đi sâu vào Việt Nam, nên hành vi phạm tội bắt đầu thực hiện khi bị cáo bắt đầu chở 03 người Trung Quốc xuất phát từ tỉnh Quảng Ninh để đi sâu vào Tp. hoặc Đồng Nai, bản chất của vụ án đối với hành vi của bị cáo chỉ là hành vi vận chuyển 03 người Trung Quốc, phạm vào khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, thời gian đầu bị cáo tích cực trong việc khai nhận hành vi phạm tội, lời khai sau bị cáo có thay đổi một số nội dung nhưng không làm thay đổi tính chất, hành vi của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm, với Tòa án trong quá trình giải quyết, xét xử nhằm sớm kết thúc vụ án, bị cáo có ông ngoại Đỗ Văn T8 là Liệt sĩ và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K mức thấp nhất của khung hình phạt.
Các bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích vụ lợi, bị cáo T và K đã dùng 02 xe ô tô chở 06 người Trung Quốc không có giấy tờ hợp pháp nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi sâu vào nội địa Việt Nam để bàn giao cho các đối tượng trong đường dây tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc Đồng Nai với giá 24 triệu đồng/ xe. Mặc dù biết những người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, nhưng bị cáo N vẫn giúp bị cáo T chở 03 người Trung Quốc và bị cáo T6 giúp bị cáo K chở 03 người Trung Quốc đi sâu vào nội địa Việt Nam với giá 04 triệu đồng/ chuyến đi.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia với vai trò giúp sức cho đối tượng M tổ chức cho người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi sâu vào nội địa Việt Nam. Để có căn cứ áp dụng hình phạt phù hợp, trên cơ sở đánh giá vai trò, tính chất mức độ hành vi tham gia cũng như về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo như sau:
[2.1] Bị cáo Vũ Văn T đóng vai trò đồng phạm, tiếp nhận ý chí của đối tượng M là người tổ chức, giúp sức tích cực cho M, liên hệ thuê người có phương tiện xe ô tô đón, chở cho 06 người Trung quốc đi vào sâu trong nội địa Việt Nam trái phép để tiếp tục xuất cảnh sang Campuchia, trong vụ án này bị cáo chưa được hưởng lợi.
Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo T đã phạm vào điểm c khoản 2 Điều 348 BLHS (đối với từ 05 người đến 10 người).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có bố vợ là ông L4 Sau Phí được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 2, hạng 3, có bác ruột Đỗ Văn M là Liệt sĩ, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi 03 con nhỏ và nuôi dưỡng chị gái đang bị bệnh tâm thần cùng 01 con nhỏ của chị gái, vợ không có việc làm ổn định, cha mẹ bị cáo già yếu (được UBND phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nơi cư trú của bị cáo xác nhận) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã có thái độ tích cực hợp tác với các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên cần áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cho bị cáo.
[2.2] Bị cáo Phạm Văn K đóng vai trò đồng phạm, giúp sức thực hiện việc đón, chở người Trung Quốc. Sau khi được bị cáo T đặt vấn đề chở khoảng 05 đến 06 người Trung Quốc không có giấy tờ vào Đồng Nai hoặc TP. làm 02 chuyến với giá 24.000.000 đồng / 01 chuyến / 01 xe thì K đồng ý tham gia, trong vụ án này bị cáo chưa được hưởng lợi.
Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo K đã phạm vào điểm c khoản 2 Điều 348 BLHS (đối với từ 05 người đến 10 người).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, thời gian đầu bị cáo tích cực trong việc khai nhận hành vi phạm tội, lời khai sau bị cáo có thay đổi một số nội dung nhưng không làm thay đổi tính chất, hành vi của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm, với Tòa án để có cơ sở giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác, không làm kéo dài việc giải quyết vụ án để sớm kết thúc vụ án; bị cáo có ông ngoại Đỗ Văn T8 là Liệt sĩ và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ nên cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.3] Bị cáo Vũ Văn N trong vụ án này bị cáo đóng vai trò đồng phạm giúp sức thực hiện việc đón, chở người Trung Quốc sau khi được đối tượng M tổ chức cho nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi sâu vào nội địa Việt Nam để tiếp tục xuất cảnh sang Campuchia. Khi được bị cáo T đặt vấn đề chở 03 người Trung Quốc với tiền công 4.000.000 đồng thì bị cáo đồng ý tham gia, trong vụ án này bị cáo chưa được hưởng lợi.
Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo N đã phạm vào khoản 1 Điều 348 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã có thái độ tích cực hợp tác với các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên cần áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cho bị cáo.
[2.4] Bị cáo Nguyễn Văn T6 khi được bị cáo K gọi điện rủ chở người Trung Quốc không cò giấy tờ từ Quảng Ninh vào TP . được trả tiền công 4.000.000 đồng thì T6 đồng ý. Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức đón, chở 03 người Trung Quốc cùng với bị cáo K, bị cáo cũng chưa được hưởng lợi từ vụ án này.
Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo T6 đã phạm vào khoản 1 Điều 348 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T6 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình công tác tại Sư đoàn phòng không 365 bị cáo được tặng 01 giấy khen, có ông nội Nguyễn Văn T9 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và hạng hai, có ông ngoại là Nguyễn Văn N2 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng ba, cha mẹ ruột bị cáo có quá trình tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã có thái độ tích cực hợp tác với các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên cần áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cho bị cáo.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn K, Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Bị cáo T và K theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự, Bị cáo N và T6 theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý xuất nhập cảnh, đồng thời gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương. Vì vậy cần thiết áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.
Đối với bị cáo T là bị cáo đầu vụ, tiếp nhận ý chí của đối tượng M đón, chở 06 người Trung Quốc vào sâu nội địa Việt Nam nên hình phạt phải cao hơn các bị cáo khác; Đối với bị cáo K với vai trò là người giúp sức, bản thân bị cáo là người có nhân thân không tốt: Năm 2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nên cần thiết phải cách ly các bị cáo T và K ra ngoài xã hội một thời gian. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo còn lại Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6 là những người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù cho hưởng án treo, tạo cơ hợi để các bị cáo nhìn nhận ra lỗi lầm của mình, cũng như để sửa chữa trở thành những người công dân có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[3] Về vật chứng:
- Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu vàng, số IMEI: 353896102224668, bên trong có gắn sim số điện thoại 0382.164.xxx của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro, màu xanh rêu, đã qua sử dụng, số IMEI: 353881100369061, bên trong có gắn sim số điện thoại 0981.959.xxx của Vũ Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 357026897654673, số IMEI 2: 357412787654678 của Nguyễn Văn T6 và 01 điện thoại di động hiệu Benco, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862859060497126, số IMEI 2: 862859060497134 của Phạm Văn K.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe ô tô Toyota Fortuner màu nâu, biển số 30L-116.92, là phương tiện mà Vũ Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Lưu Thị Bẩy .
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe ô tô Mitsubishi Xpander màu trắng, biển số 14A-635.32, là phương tiện mà Phạm Văn K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Lương Phương T2.
- 02 (hai) thẻ nhớ camera lắp trong nhà của Vũ Văn T tại khu T, phường T, TP , tỉnh Quảng Ninh. Qua giám định những dữ liệu lưu trữ còn lại trong 02 thẻ nhớ không có nội dung liên quan đến vụ án nên Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh N đã giao trả lại 02 thẻ nhớ trên cho bà Đỗ Thị L là mẹ ruột của T là có căn cứ.
- Số tiền 8.370.000 đồng tạm giữ của bị cáo Phạm Văn K. Qúa trình điều tra xác định đây là tài sản của Phạm Văn K, không phải là tiền thu lợi bất chính. Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh N đã giao trả lại cho bị cáo Phạm Văn K theo Quyết định xử lý vật chứng số 13 ngày 17/02/2025 nên không xét đến.
[4] Đối với yêu cầu nhận lại chiếc xe ô tô Mitsubishi Xpander, màu trắng, biển kiểm soát 14A-635.32 của Ngân hàng TMCP T11: Quá trình điều tra, xác định Phạm Văn K và vợ là bà Lương Phương T2 sử dụng chiếc xe trên làm tài sản thế chấp vay tiền tại Ngân hàng TMCP T11 (T12) – Trung tâm B2 bán lẻ Quảng Ninh từ tháng 01/2022. Đến ngày 25/02/2025, vợ chồng K còn nợ Ngân hàng số tiền 74.098.826 đồng.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì: “Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm...” và theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP nêu trên thì “Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó”. Như vậy trong vụ án này, bị cáo K sử dụng tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP T11 vào việc phạm tội nên việc xử lý tài sản trên thực hiện theo quy định Điều 47 BLHS năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tức là bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên xác định đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Phạm Văn K và bà Lương Phương T2 nên sẽ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe và hoàn trả lại cho bà T2 ½ giá trị còn lại. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng, Ngân hàng TMCP T11 có quyền khởi kiện bị cáo Phạm Văn K và bà Lương Phương T2 bằng vụ án dân sự khác đối với khoản nợ còn lại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[5] Đối tượng tên M sử dụng tài khoản WeChat "toi la toi", (ID: wxid_ydzh4wk2vika22) là người thuê bị can T đón, chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh N đã có văn bản gửi Cơ quan An ninh điều tra 62 tỉnh, thành phố trên toàn quốc để phối hợp xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả, nên không xử lý trong vụ án này.
[6] Đối với 06 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép: Công an tỉnh N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi qua lại biên giới quốc gia (Trung Quốc – Việt Nam) mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của pháp luật và trục xuất về nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 03 (ba) năm tù, hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/11/2024.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 02 (hai) năm tù, hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/11/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Xử phạt bị cáo Vũ Văn N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Văn N cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Vũ Văn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo".
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T6 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T6 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Ngyễn Văn T10 cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T6 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo”.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6, nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu vàng, số IMEI: 353896102224668, bên trong có gắn sim số điện thoại 0382.164.xxx của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro, màu xanh rêu, đã qua sử dụng, số IMEI: 353881100369061, bên trong có gắn sim số điện thoại 0981.959.xxx của Vũ Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 357026897654673, số IMEI 2: 357412787654678 của Nguyễn Văn T6 và 01 điện thoại di động hiệu Benco, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862859060497126, số IMEI 2: 862859060497134 của Phạm Văn K.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe ô tô Toyota Fortuner màu nâu, biển số 30L-116.92, là phương tiện mà Vũ Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Lưu Thị Bẩy .
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe ô tô Mitsubishi Xpander màu trắng, biển số 14A-635.32, là phương tiện mà Phạm Văn K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho bà Lương Phương T2.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an tỉnh N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước ngày 28/4/2025).
Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Văn K, Vũ Văn N và Nguyễn Văn T6 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/6/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Cường |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo cùng đồng phạm bị truy tối về tội tổ chức cho người khác ở lại
