Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày: 12/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng.
Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Ông Nguyễn Đức Hạnh

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/QĐ-ST ngày 22 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thị Phương A, tên gọi khác: N; sinh ngày 09/08/1982; số CCCD: [...]; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: số B, T, tổ H, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; chỗ ở: B P, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh B (đã chết) và con bà Đồng Thị K; có chồng là Đặng Việt D (đã chết) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Trung K1 - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ: số A Hồ N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: số F P, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987;
  2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975;
  3. Ông Vũ Đình H1, sinh năm 1970;
  4. bà Đồng Thị K, sinh năm 1958;
  5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984;
  6. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1987;
  7. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993;
  8. Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1983;

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Thị Phương A (tên gọi khác là N) quen biết anh Nguyễn Việt Đ khi đến cửa hàng xe máy điện, xe đạp điện của anh Đ tại Km 50+500 QL E, đường A, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tháng 3/2022, khi thấy anh Đ có nhu cầu mua ắc quy để lắp vào xe máy, xe đạp điện; mặc dù không buôn bán mặt hàng này, nhưng do cần tiền để trả nợ nên Phương A đã nói với anh Đ việc Phương A có nguồn hàng vận chuyển ắc quy từ Trung Quốc về Việt Nam với giá ưu đãi. Anh Đức T2 thật đã chuyển 549.440.000 đồng cho Phương A đặt mua 365 bộ ắc quy. Do Phương A nợ tiền một số người nên đã đề nghị anh Đ chuyển tiền vào các tài khoản của họ để trừ đi khoản tiền mà Phương A nợ họ. Cụ thể:

Các ngày 08/4/2022, ngày 10/4/2022 và ngày 19/4/2022 Phương A nhận 310.000.000 đồng do anh Đ chuyển đến qua tài khoản của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1975, trú tại khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương để trả nợ chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, địa chỉ: E Đ, phường C, thành phố H (chị H vay chị M).

Ngày 06/5/2022, Phương A nhận 19.360.000 đồng của anh Đ chuyển qua tài khoản của anh Vũ Đình H1, sinh năm: 1980, trú ở phường Q, thành phố H do Phương A nói dối anh Đ: Anh H1 là nhân viên thuế cửa khẩu nên chuyển tiền cho anh H1 để nộp thuế nhập khẩu giúp. Số tiền này để Phương A trả nợ anh H1 1.800.000 đồng, trả nợ anh Đ 17.000.000 đồng còn 560.000 đồng Phương A sử dụng cá nhân.

Cũng trong ngày 06/5/2022, Phương A nhận 200.000.000 đồng của anh Đ qua tài khoản anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1993, địa chỉ xã Ứ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đây là số tiền Phương A1 trả cho anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1983, trú ở phường N, quận C, thành phố Hà Nội để làm thủ tục đưa 04 người em họ của Phương A1 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản.

Ngày 08/5/2022, Phương A1 nhận 66.080.000 đồng của anh Đ qua tài khoản của anh H1 để trả nợ chị Phạm Thị C, sinh năm: 1987, trú ở phường C, thành phố H số tiền 8.000.000 đồng và trả nợ anh H2 58.000.000 đồng, Phương A1 sử dụng cá nhân 80.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSHD-P1 ngày 31/03/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Thị Phương A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng đã nêu. Do cần tiền để sử dụng cá nhân và trả nợ nên bị cáo đã nói dối anh Nguyễn Việt Đ về việc có thể mua ắc quy từ Trung Quốc về Việt Nam với giá ưu đãi. Bị cáo yêu cầu anh Đ chuyển luôn tiền đến các số tài khoản của người mà bị cáo cần trả nợ cho họ. Bị cáo không chuyển tiền cho ai để mua ắc quy cho anh Đ. Bị cáo đã lừa dối và chiếm đoạt của anh Đ số tiền 595.440.000 đồng. Bị cáo bị truy tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng, không bị oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Phương A (N) phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Xử phạt: bị cáo Bùi Thị Phương A (N) từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng: không. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Thị Phương A phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Hành vi của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thực sự ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra; đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt; gia đình có bố bị cáo được tặng thưởng huân huy chương, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn: hiện đang là mẹ đơn thân nuôi 03 con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo đã mất, mẹ bị cáo hiện đã già yếu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã hoàn trả toàn bộ số tiền cho bị hại. Bị cáo hiện là lao đồng chính nuôi ba con còn nhỏ, chồng đã mất. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội và để nuôi dạy 03 con nhỏ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Bị hại, anh Nguyễn Việt Đ vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền để sử dụng cá nhân và trả nợ, trong khoảng thời gian tháng 3/2022 đến ngày 08/5/2022 tại thành phố H, tỉnh Hải Dương, Bùi Thị Phương A (N) đã đưa ra thông tin gian dối với anh Nguyễn Việt Đ về việc giúp anh Đ mua ắc quy từ Trung Quốc về Việt Nam với giá ưu đãi. Anh Đ đã tin tưởng chuyển cho Bùi Phương A (N) tổng số tiền 595.440.000 đồng thông qua các số tài khoản mà Bùi Phương A (N) cung cấp để trả nợ cho họ và sử dụng vào việc cá nhân.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đưa ra thông tin gian dối, không có thật để bị hại tin tưởng chuyển tiền theo yêu cầu của bị cáo và bị cáo chiếm đoạt tiền của họ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý vì mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; tự nguyện khắc toàn bộ phục hậu quả cho bị hại; có bố đẻ là ông Bùi Thanh B được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương, Bằng khen trong kháng chiến chống Mỹ. Hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn, là mẹ đơn thân nuôi 03 con nhỏ. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/7/2024, bị cáo đã trả lại cho anh Nguyễn Việt Đ số tiền 595.440.000 đồng. Anh Đ không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Các vấn đề khác: Đối với những người nhận tiền do Bùi Thị Phương A chiếm đoạt của anh Đ chuyển đến gồm: Chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị M, Nguyễn Đình H3, Phạm Thị C, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Văn T1, đều không biết Bùi Thị Phương A phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Phương A (N) phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  3. Xử phạt: bị cáo Bùi Thị Phương A (N) 07 (bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Thị Phương A (N) phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Vụ Kiểm tra giám đốc I - TANDTC;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HSVA, THS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị P.A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger