Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 49/2025/HS-PT

Ngày 27-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vân

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng và ông Phạm Ngọc Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 47/2025/TLPT-HS ngày 10/10/2025 đối với bị cáo Lê Đình N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST-LY ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Đình N (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 13/6/1973 tại huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai); Căn cước công dân số: [...] do Cục C về TTXH, Bộ C1 cấp ngày 25/5/2023.

Nơi cư trú: Tổ A thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Đình H và bà Nguyễn Thị O. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 02, Công an tỉnh L (Có mặt).

- Bị hại:

Anh Lê Đình L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai) (Có mặt).

- Những người làm chứng:

  • + Chị Lê Thị Hoài T, sinh năm 2006 (Có mặt)
  • + Ông Lê Đình H, sinh năm 1942 (Có mặt)
  • + Chị Lê Thị Ánh T1, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
  • + Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
  • + Anh Lê Đình T2, sinh năm 1975 (Có mặt)
  • + Chị Lê Thị V, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ A thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 30 tháng 06 năm 2024, khi anh Lê Đình L đang ở nhà cùng con gái là Lê Thị Hoài T thì nghe tiếng va đập ở tường nhà, T chạy ra xem thì gặp ông nội là Lê Đình H (bố đẻ Lê Đình L), T hỏi ông H là “ông ơi có chuyện gì đấy” ông H trả lời là “bác N ném đá vào tường”, sau đó T quay về nhà được khoảng 02 phút sau có chị Lê Thị Ánh T1 (là chị gái họ của T) đến. T1 nói “chú L ơi, chú không biết gì à, bác N ném vỡ cửa kính phòng chú rồi” nghe vậy T và L đi vào nhà kiểm tra thì thấy cửa kính phòng ngủ bị vỡ. L cầm đoạn thước I (loại thước xây dựng) trong nhà đi ra khu vực sân nhà ông H (phía sau nhà Lê Đình L), lúc này chị Hoàng Thị H2 (vợ của Lê Đình L) sau khi được T gọi điện cũng tới sân nhà ông H. Anh L, chị H2 và T cùng đi đến sân nhà ông H giáp với nhà Lê Đình N và vườn nhà chị Lê Thị V (chị gái Lê Đình N). L nhặt hai hòn đá ném vào tường (lưới B40) nhà N nói “tao làm gì mày mà mày phá nhà tao”, N không nói gì mà ném đá 02 lần về phía L, phát thứ nhất N ném không trúng, hòn đá bay về phía chị Hoàng Thị H2, khi L vừa quay người để về thì N ném phát thứ hai, hòn đá trúng vào đỉnh đầu bên trái của L. L bị choáng, bước đi loạng choạng, N cầm dao nhọn (loại dao gọt hoa quả) lao từ bụi rau ngót trên bãi đất trống của nhà Lê Đình T2 (em trai Lê Đình N) giáp với nhà N, N cầm dao ở tay phải tấn công L làm L bị ngã. N và L giằng co, vật lộn với nhau sau đó N tiếp tục ngồi lên bụng, dùng hai tay dí lưỡi dao về phía L, L bỏ thước I ra dùng hai tay giữ tay vào lưỡi dao của N, thấy vậy chị H2 dùng thước Inox của L vụt vào lưng N mục đích để N buông dao ra nhưng N không buông dao và bảo T là “T ơi gọi bác T2 cứu bố mẹ với”. Sau đó chị Lê Thị T1 (lúc này đang ở nhà ông H) thấy sự việc nên lấy thước Inox của chị H2 vụt vào lưng N để N buông dao nhưng N không buông, lúc này anh Lê Đình T2 được T gọi tới nơi, anh T2 lao vào ôm, giật lấy dao ở tay N nhưng không giằng được, T lao vào lấy tay túm tóc của N giật ngược, làm N ngửa người ra sau lúc này anh T2 mới giằng được dao của N vứt đi. Sau đó N đi về nhà ngủ còn anh L được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Y để chữa trị. Quá trình anh L với N giằng co vật lộn anh L bị thương tích ở vùng cổ, tay và nhiều vết xây xước trên cơ thể. Nguyên nhân của sự việc trên là do Lê Đình N nghi ngờ L ném đá vào nhà mình.

- Tại bản kết luận giám định số 101/KLTTCT- TTPY ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình L tại thời điểm giám định là 38% (ba mươi tám phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích:

  • + Vết thương vùng đỉnh trái + vỡ hộp sọ + Đụng đập nhu mô não + tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh trái là do vật tày tác động một lực mạnh theo hướng trực diện gây nên.
  • + Vết thương vùng cổ gáy bên phải phía trên chân tóc là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng từ phải sang trái gây nên.
  • + Vết thương gốc ngón II bàn tay phải là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng trực diện gây nên.
  • + Vết thương 1/3 dưới mặt sau cẳng tay trái là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng từ dưới lên trên gây nên.
  • + Vết thương lưng đốt 1 ngón I bàn tay trái là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng từ dưới lên trên gây nên.

Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025HS-ST-LY ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Đình N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Đình N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 01/7/2024.

Ngoài ra bản án còn xử lý về vật chứng, tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định, đồng thời kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Đình N về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Ngày 03/9/2025, bị cáo Lê Đình N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đình N thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX tuyên bị cáo không có tội, bị cáo không có hành vi gây thương tích cho anh Lê Đình L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

Người bị hại là anh Lê Đình L đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Lê Đình N không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại biên bản ghi lời khai các ngày 01/7/2024, 02/7/2024, 04/7/2024, 05/7/2024, 18/9/2024, 04/10/2024, bị cáo N thừa nhận bị cáo có ném 02 viên đá về phía bị hại Lê Đình L và có sự việc bị cáo cầm dao gọt hoa quả tiến đến chỗ bị hại, bị cáo và bị hại giằng giữ con dao (BL 140 – 152). Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/3/2025, bị hại anh Lê Đình L khai nhận: Bị cáo có ném đá trúng đầu anh, anh và bị cáo có giằng co con dao và anh bị thương tích ở vùng cổ gáy, bàn tay...là do con dao của bị cáo. Tại biên bản ghi lời khai ngày 30/6/2024, 12/8/2024, 18/10/2024, người làm chứng chị Lê Thị Ánh T1 khai: Bị cáo có ném đá vào bị hại, đồng thời có cầm dao đâm bị hại theo hướng từ trên xuống, hướng vào vùng ngực nhưng không rõ đâm chính xác vào đâu (BL 210 – 214). Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/3/2025 người làm chứng chị Hoàng Thị H2 khai: Có thấy có đá ném từ phía bị cáo về phía anh L và trúng vào đầu anh L, bị cáo có cầm dao nhọn hướng về phía ngực, mặt anh L (BL 303 – 304). Tại biên bản ghi lời khai ngày 04/7/2024, 31/8/2024, người làm chứng cháu Lê Thị Hoài T khai: Có thấy bị cáo ném trúng viên đá vào đầu anh L và thấy bị cáo dùng dao dí vào phía mặt anh L (BL 234 – 237). Tại biên bản ghi lời khai ngày 30/9/2024, người làm chứng chị Lê Thị V khai: Có thấy bị cáo cầm dao hướng về phía người anh L (BL 249 – 250). Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/10/2024, ông Lê Đình H khai bị cáo có cầm dao tiến về phía anh L (BL 256 – 257). Tại biên bản ghi lời khai ngày 01/7/2024, người làm chứng anh Lê Đình T2 khai: Bị cáo có cầm dao dí vào mặt L (BL 264 – 265).

Lời khai của những người làm chứng phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 30/6/2024, vì mâu thuẫn cá nhân, bị cáo Lê Đình N đã có hành vi dùng đá ném trúng vào phần đầu của bị hại Lê Đình L gây các thương tích với tỷ lệ % tổn thương như sau: Vỡ hộp sọ vùng đỉnh trái kích thước 6x4cm: 20%; đụng dập nhu mô não vùng đỉnh trái, kích thước 4x5mm: 11%; tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh trái: 08%; vết thương vùng đỉnh trái, kích thước 10x0,1cm: 02%. Dùng dao nhọn (loại dao gọt hoa quả) tấn công, giằng co với bị hại Lê Đình L gây ra các thương tích với tỷ lệ % tổn thương như sau: Vết thương ở vùng cổ gáy vị trí phía trên chân tóc, kích thước 03x0,1cm: 01%; vết thương gốc ngón II bàn tay phải, kích thước 2,8x0,1cm: 01%; vết thương 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 2,5x0,1cm: 01%; vết thương đốt I ngón I bàn tay trái kích thước 01x01cm: 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 38%.

Hành vi của bị cáo Lê Đình N đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích. Vì vậy, bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với kiến nghị của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai về việc kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Đình N về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/3/2025, bị hại anh Lê Đình L khai nhận thực tế bị cáo N có cầm dao tiến về phía anh, anh và bị cáo N có giằng co, vật lộn, các vết thương ở vùng cổ gáy, cẳng tay trái, đốt ngón tay do dao gây ra nhưng được gây ra như thế nào anh L không biết (BL 301 – 302). Người làm chứng chị Hoàng Thị H2, ông Lê Đình H cũng khai nhận không trực tiếp nhìn thấy bị cáo đâm vào cổ anh L, cũng không biết bị cáo có đâm về phía anh L hay không (BL 256 – 257; 303 – 304). Về việc bị cáo ném đá vào bị hại, tại biên bản xác định hiện trường ngày 04/7/2024, vị trí bị cáo đứng cầm đá ném bị hại đến vị trí bị hại đứng là 15,7m, khoảng cách và điều kiện ánh sáng thời điểm đó không đủ để bị cáo có thể ném đá chính xác vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại. Về việc bị cáo tấn công bị hại bằng dao, bị cáo và bị hại đều khai nhận hai người chỉ giằng co, không có việc bị cáo trực tiếp đâm vào vùng cổ gáy hay vùng ngực của bị hại. Hơn nữa tại kết luận giám định tổn thương cơ thể ngày 02/7/2024 đối với anh Lê Đình L, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 38%, trong đó phần lớn tổn thương là do đá gây ra, vết thương vùng cổ gáy do dao gây ra chỉ chiếm 01%, thể hiện việc bị cáo không chủ đích gây ra các vết thương bằng dao đối với bị hại. Với khoảng cách giữa bị cáo, bị hại và căn cứ lời khai của anh L, chị H2, không có căn cứ vững chắc để cho rằng bị cáo có hành vi dùng dao, đá tấn công vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại, nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại. Xác định hành vi của bị cáo đối với bị hại chỉ là cố ý gây thương tích là phù hợp với các vết thương trên cơ thể bị hại, phù hợp với tính chất, cường độ tấn công của bị cáo. Kiến nghị của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai chưa đủ cơ sở vững chắc để xem xét, chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như phân tích tại mục [2], hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo cũng thừa nhận tại thời điểm xảy ra sự việc giữa bị cáo và anh L, chỉ có bị cáo và anh L xô xát với nhau, ngoài ra không có ai khác. Bị cáo cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh ngoài bị cáo, còn có người nào khác gây thương tích cho anh L. Vì vậy kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét thấy quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cần chấp nhận.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Đình N như sau:

Tuyên bố bị cáo Lê Đình N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Đình N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2024.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Đình N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Trại tạm giam số 02;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Lào Cai;
  • - CQTHAHS CA tỉnh Lào Cai;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Lào Cai;
  • - TAND khu vực 2 – Lào Cai;
  • - VKSND khu vực 2 – Lào Cai;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Khánh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-PT ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 49/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger