|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HS-PT Ngày: 23/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Thu Hằng;
Các Thẩm phán: bà Đậu Thị Quy và bà Vũ Ngọc Hà.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Ý Ngọc – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Trương Minh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- - Bị cáo có kháng cáo: Trương Minh T, sinh ngày 26/6/1997; nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hữu Q, sinh năm 1966 và bà Võ Thị P, sinh năm 1968 (chết); tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- - Bị hại: Trương Văn K, sinh năm: 1964; nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: giữa Trương Minh T và Dương Thành T1 có mâu thuẫn trước đó nên khoảng 16 giờ ngày 27/5/2024, Trương Minh T cầm 01 con dao tự chế dài 73,5cm đi đến nhà Dương Thành T1 tại thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên để thách thức đánh nhau với Dương Thành T1. Thấy Trương Minh T cầm dao đứng trước cổng nhà mình chửi nên ông Dương Văn K1 (là cha ruột của Dương Thành T1) bực tức đi đến chuồng bò cầm lấy một đoạn sắt dài khoảng 64,5cm đi ra trước cổng nhà cải nhau, thách thức đánh nhau với Trương Minh T, lúc này có bà Nguyễn Thị Â và chị Dương Thị Thanh T2 (là con bà Â) ở cạnh nhà ông K1 đến để can ngăn. Bà Â và T2 đứng giữa Trương Minh T và ông K1 can ngăn, trong lúc bà Â can ngăn thì ông K1 cầm đoạn sắt trên tay phải vung đánh T theo hướng từ trên xuống thì làm trúng vùng cẳng tay phải của bà Â gây thương tích, nên bà Â không can ngăn nữa. Ký tiếp tục cầm đoạn sắt đánh từ trên xuống trúng vào bàn tay trái của Trương Minh T thì T cầm dao tự chế trên tay phải chém từ trên xuống trúng vào vùng cẳng tay trái của ông K1 gây thương tích, Ký được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh P để điều trị thương tích.
Ngày 07/9/2024, bà Nguyễn Thị Â có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 07/9/2024, Trương Minh T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 305/KLTTCT-PYPY ngày 30/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Văn K1 tại thời điểm giám định là 22%. Vật tác động: vật có cạnh sắc.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 338/KLTTCT-PYPY ngày 29/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Â tại thời điểm giám định là 0,2%. Vật tác động: vật có cạnh.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 339/KLTTCT-PYPY ngày 29/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Minh T tại thời điểm giám định là 1,5%. Vật tác động: vật có cạnh.
Tại Bản Kết luận giám định số: 525/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: 01 con dao tự chế (ký hiệu A1) gửi đến giám định là “Đao” thuộc vũ khí thô sơ, 01 đoạn kim loại (ký hiệu A2) gửi đến giám định là cây xà beng cạy, báy và nhổ đinh, là công cụ lao động, không phải là vũ khí thô sơ hay công cụ hổ trợ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trương Minh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Minh T. Xử phạt: bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX không xét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/02/2025, bị cáo Trương Minh T kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
- - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, để tiến hành xét xử vụ án và căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Kiểm sát viên đối đáp không nhất trí với ý kiến bị cáo, giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Minh T tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án; cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử, thấy:
[2] Bị cáo đã cầm dao tự chế chủ động tìm đến nhà Dương Thành T1 để chửi bới, la hét nhằm giải quyết mâu thuẫn. Việc này đã đến tranh chấp với cha của Dương Thành T1 là Dương Văn K1. Ký dùng thanh sắt đánh bị cáo T1 gây thương tích, T1 dùng dao tự chế chém trúng cẳng tay trái của bị cáo K1 gây thương tích tỷ lệ 22% là thể hiện sự xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tích chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[3] Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cùng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 02 năm tù, là đã xem xét đầy đủ, vận dụng chính sách khoan hồng của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.
[5] Bị cáo Trương Minh T kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: bị cáo Trương Minh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: bị cáo Trương Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm và 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Phạt: bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hằng |
Bản án số 49/2025/HS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 49/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Minh T cố ý gây thương tích
