Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - THANH HOÁ


Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 12 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Tùng

Ông Lê Xuân Tơn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hồng H; sinh năm: 1996; CCCD số: [...]; HKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã N, tỉnh Thanh Hoá.
  • Bị đơn: Anh Phạm Văn N; sinh năm: 1997; CCCD số: [...]; HKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt chị H, anh N. Chị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22/9/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Hồng H trình bày: Chị và anh Phạm Văn N kết hôn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi và về chung sống từ năm 2016, nhưng đến ngày 23/11/2017 vợ chồng mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra, anh N thường xuyên uống rượu, không tu chí làm ăn. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng H1, sinh ngày 17/12/2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến tháng 10/2025, cháu H1 ở với anh N, chị H hằng tháng vẫn gửi tiền về cho anh N nuôi con. Nếu ly hôn, chị giao cháu H1 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2025 cho đến khi cháu H1 thành niên.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn N để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh N không có mặt nên không có lời khai của anh N và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh N không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Phạm Thị Hồng H được ly hôn anh Phạm Văn N. Giao cháu Phạm Hoàng H1, sinh ngày 17/12/2016 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2025 cho đến khi cháu H1 thành niên. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Hồng H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn N, nơi cư trú tại Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh N không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh N theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Anh N đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh N đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Chị Phạm Thị Hồng H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn N lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh N vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị H, anh N.

[2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Hồng H và anh Phạm Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã N, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Về phía anh N, biết chị H làm đơn xin ly hôn và Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh N lên làm việc để anh N được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh N đều không có mặt, thể hiện anh N không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị H, anh N đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh N.

[3] Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung. Xét thấy, hiện tại cháu H1 đang ở với anh Ngân. Cháu có nguyện vọng muốn được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu. Chấp nhận yêu cầu của chị H: giao cháu H1 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến tháng 10/2025, cháu H1 ở với anh N, chị H hằng tháng vẫn gửi tiền về cho anh N nuôi con. Xét thấy mức đề nghị và thời gian cấp dưỡng của chị H là phù hợp. Buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2025 cho đến khi cháu H1 thành niên.

[4] Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107; 110 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273; 482 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hồng H được ly hôn anh Phạm Văn N.
  2. Về con chung: Chị Phạm Thị Hồng H và anh Phạm Văn N có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng H1, sinh ngày 17/12/2016. Giao cháu H1 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2025 cho đến khi cháu H1 thành niên. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị Hồng H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, theo biên lai số 0001963 ngày 20/10/2025. Chị H còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm. Chị H, anh N có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND cùng cấp;
- UBND xã Ngọc Lặc;
- THADS cấp tỉnh;
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- Lưu HSVA; Văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Lê Văn Thịnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị Hồng H xin ly hôn anh Phạm Văn N, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger